Chủ Nhật, 12 tháng 12, 2021

 

NOV

 

🌿Nhà văn có thể làm gì trong đại dịch?



“Đỗ Phủ viết làm gì

Thế gian không ai biết

Hỏi làm sao Chim hót

Chim hót để làm gì…”



Đó chính là những dòng thơ đầy trăn trở của Nguyễn Phan Hách trong “Đỗ Phủ viết làm gì”. Rốt cuộc thì, Đỗ Phủ viết để làm gì? Đỗ Phủ và cả những nhà văn, nhà thơ khác vì đâu mà cứ miệt mài sáng tác, mặc cho những “Lệ và huyết mài mực”? Còn những áng văn chương liệu có thể làm được gì cho cuộc đời này, cho những kiếp nhân sinh luôn phải xoay sở từng ngày để có thể sinh tồn? Hay nhà văn, nhà thơ cứ như những con chim cất tiếng hót vô định, không đích đến, cứ hót và sống trong thanh âm của riêng mình mà bỏ quên cuộc đời? Thi nhân, có thể hay không, trước đại dịch của toàn nhân loại, cùng với các bác sĩ, nhà khoa học, cứu chữa và bảo vệ con người thoát khỏi sự lưu đày đến cõi vong thân?



Bước vào thập niên thứ ba của thế kỷ hai mươi, hàng tỉ người trên toàn thế giới đã cùng nhau háo hức chờ mong những bước chuyển mình tiếp theo của một thời đại mới. Năm 2020 đến cùng với những đợi chờ, ước mơ và hy vọng để rồi hơn một nửa chặng đường đã qua, tất cả những gì mà nhân loại đối mặt chính là nỗi sợ hãi, sự hoang mang - tất cả đều đến từ một nguyên nhân duy nhất: Đại dịch Covid-19. Còn nhớ đêm giao thừa hôm nào, dưới pháo bông rực rỡ, trong tiếng nhạc rộn ràng, người ta đã nghĩ 2020 là một năm mới đầy hứa hẹn để rồi chỉ một tháng sau thôi, cả thế giới như “vỡ trận” trong sự bùng phát của đại dịch. Hàng trăm rồi hàng ngàn, hàng trăm ngàn,...những con người đã chết, vì đại dịch. Mặc kệ những nỗ lực kiểm soát và cứu chữa từ đội ngũ y bác sĩ trên toàn thế giới, số lượng bệnh nhân mắc phải Covid-19 không ngừng tăng lên, kéo theo đó không chỉ là nỗi ám ảnh về bệnh tật và cái chết mà còn là vô vàn những vấn đề khác. Đó là sự tuột dốc không phanh của nền kinh tế trên toàn thế giới. Có lẽ đã rất nhiều năm qua đi, người ta mới lại nhìn thấy phố Wall điêu tàn, hỗn loạn đến vậy. Suốt năm 2020, hàng ngàn doanh nghiệp liên tục đóng cửa, dù là ở Việt Nam hay Đông Nam Á, châu Á hay châu Âu, người ta dần trở nên quen với việc những ánh đèn sáng trưng trong các cửa hiệu giờ chìm vào bóng đêm ảm đạm. Từ sự sụp đổ của nền kinh tế, con người ta rơi vào khủng hoảng tinh thần với những áp lực mưu sinh, để rồi khi Covid-19 chưa kịp tìm đến, con người ta đã vội vã chạy trốn thế giới đầy hiểm nguy vây quanh mình. Đại dịch bùng phát, kinh tế khó khăn là cơ hội cho những âm mưu lừa đảo, làm nhiễu loạn thông tin thừa cơ hoành hành. Giờ đây, điều khó khăn nhất không phải là con người làm sao để vượt qua đại dịch mà là bằng cách nào để niềm tin vào sự sống có thể duy trì. Bởi thực tế, sự đổ vỡ niềm tin vào sự sống mới là điều đưa người ta đến với cái chết nhanh nhất, nhanh hơn bất kỳ sự tàn phá của một loại bệnh tật nào trên đời!



Ở trong đại dịch, có nhiều lý do để con người ta chết đi - bệnh tật, ốm đau chính là những cái chết mà các bác sĩ đã và đang nỗ lực hết mình để ngăn chặn. Thế nhưng, những chấn thương tinh thần, những áp lực và khủng hoảng về tâm lý của con người thì sẽ do ai hàn gắn, chữa lành? Điều đáng sợ nhất khi một cơn đại dịch qua đi liệu sẽ là tổng số thương vong về người và của hay sự sống mơ hồ của hàng tỉ những người còn lại trên đời? Đại dịch chính là một hình thức của chọn lọc tự nhiên, vậy thì những kẻ còn sống ấy, là những người may mắn được chọn hay là những kẻ xui rủi tận cùng, phải sống để cảm nhận rõ ràng những dày vò từ nỗi đau mất mát? Thuốc than, trị liệu sẽ thật sự cứu chữa được họ hay chăng?



Trở lại với quá khứ, chúng ta hẳn còn nhớ đến Lỗ Tấn. Có là ngẫu nhiên hay chăng, khi một thầy thuốc như ông lại chọn trở thành một nhà văn và xem như đây là cách tốt nhất để cứu lấy người dân Trung Hoa lúc bấy giờ? Giả sử, Lỗ Tấn vẫn là một thầy thuốc, ông sẽ dùng phương thuốc nào để chữa dứt căn bệnh vô cảm, lạc hậu của đồng bào mình? Hay chính sự ra đời của hàng loạt những sáng tác từ truyện ngắn đến truyện dài, tiểu thuyết của mình, Lỗ Tấn đã không chỉ tạo tiền đề để Trung Quốc có rất nhiều những Lỗ Tấn sau ông mà quan trọng hơn hết, là chữa khỏi dần những căn bệnh quốc dân. Và không chỉ Lỗ Tấn, mà nhìn vào chính nền văn học nước ta thôi cũng thấy một đại diện vô cùng tiêu biểu đó là Cụ đồ Chiểu. Từ một thầy lang, Nguyễn Đình Chiểu tìm đến bút mực, không chỉ xem đây như một thứ vũ khí “Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” mà còn là phương thuốc dành cho tâm hồn người Việt trong suốt một giai đoạn lịch sử đầy biến động. Lỗ Tấn và Nguyễn Đình Chiểu, họ đã là những người thầy thuốc chữa bệnh về thể chất cho con người. Nhưng cũng là họ, cùng với những nhà văn, nhà thơ khác, đem đến những bài thuốc hữu hiệu, thiết thực hơn, dành cho tâm hồn của con người !



Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Trung từng viết: “Trước một thế giới tan vỡ hay có nguy cơ tan vỡ, nhà văn phải nhặt nhạnh từng mảnh vỡ, tái tạo lại chính nó, đồng thời kích hoạt những dây đàn cảm xúc của con người”. Nhà văn - những con người bằng xương bằng thịt như bao người khác trên thế gian liệu có một phép thần thông hay chăng, mà hàn gắn lại được những đổ vỡ của cuộc đời? Đối diện với những thương tổn từ sâu trong tâm hồn người, nhà văn sẽ làm gì để từng cơn đau đớn, tuyệt vọng kia nguôi ngoai? Đối diện với ốm đau, cái chết và cả sự chia lìa, nhà văn sẽ có thể hồi sinh tất cả hay sao?



Không, nhà văn không thể xoá nhoà đi những buồn đau hay lấp đầy những mất mát của con người. Nhưng nhà văn sẽ lại là người đem cái chết ra xa khỏi họ, để người ta có thể đi qua những lần vụn vỡ, những lần thương đau. Nhà văn cho con người dũng khí để chọn lựa sự sống!



Nhà văn cứu chữa con người, trước hết bằng những sự thật. Đó là sự thật về cuộc đời và về chính bản thân của mỗi người. Như Virginia Woolf đã nói: “Văn chương không phải là liều thuốc an thần ru con người ta vào giấc ngủ uể oải mà là sắt nung bỏng rát thức tỉnh con người”. Văn chương không đẩy con người ta vào cơn mộng mị bằng những ảo ảnh về cuộc đời mà là sự soi chiếu trực diện, chân thật bản chất của thế giới. Có thể, thế giới văn chương chứa đầy những ước mơ nhưng có khi, ngập tràn nghịch cảnh, bi kịch nhưng nhất định, đó không phải là một thế giới đơn điệu, một chiều. Thế giới của văn chương là thế giới đầy giằng xé trong nội tâm của một con quỷ đội lớp người như Chí Phèo, một con quỷ luôn vẫy vùng trên lằn ranh của thiện lương và tàn độc, của một thằng rạch mặt ăn vạ “phá nát bao cảnh yên vui” và một kẻ cô đơn cùng đường luôn khắc khoải hoài nghi “Ai cho tao lương thiện?”. Đó là thế giới mà một thiên tài nghệ thuật như Vũ Như Tô phải gánh chịu bi kịch của một người nghệ sĩ đơn độc sống với lý tưởng nghệ thuật rời xa thực tại để rồi trơ mắt ra nhìn giấc mộng lớn đời mình trở thành tàn tro rồi vẫn bất tin mà gào thét “Vô lý! Vô lý!” Văn chương tạo dựng một thế giới muôn hình vạn trạng trên từng trang sách, thế giới của nó vận hành với đầy những mâu thuẫn và nghịch lý thay vì minh bạch phải - trái, đúng - sai. Cuộc sống hiện lên từng trang giấy mang dáng dấp của đời thực, với vô vàn chân dung của con người, những con người bằng xương bằng thịt với mọi hỷ-nộ-ái-ố, với những khát khao lẫn tuyệt vọng, với sự thanh cao và cả những suy đồi. Thực tại và con người trong văn chương là như thế, là một sản phẩm của ngôn từ và sự sáng tạo nhưng chắc chắn không phải là những hình tượng trống rỗng, vô hồn.



Chính nhờ điều này, thay vì là những con chữ rỗng tuếch, văn chương nói như Phillipe Jacollete, đã cho người ta già đi từ đầu đến cuối bài thơ. Qua một bài thơ, một câu chuyện, con người ta như sống một cuộc đời. Mỗi lần hoà vào thế giới của văn chương là lại một lần được sống, sống những cuộc đời khác nhau. Mỗi lần bước vào trang sách là như được tái sinh, với một diện mạo, một tâm hồn mới, để trải nghiệm, để dấn thân mà ngắm nhìn cuộc đời. Sống trong trang sách, người ta có thể vỡ oà trong niềm sung sướng vì nhìn thấy những giấc mơ hoá thành hiện thực. Và cũng trong trang sách, bao giọt nước mắt đã rơi, vì hiện thực tàn khốc, vì những mộng mơ tan vỡ, vì tình yêu nhạt nhoà, vì đời người chóng vánh như một giấc chiêm bao. Để rồi, từ trong vô vàn những cảm xúc ấy, dẫu là đớn đau hay hạnh phúc, là thăng hoa hay trầm buồn, con người ta nhìn thấy thế giới này và nhìn thấy chính con người mình. Già đi mà Jacollete nói ấy, chính là sự già đi của nhận thức, không chỉ nhận thức về cuộc đời mà còn là nhận thức về bản thân của mỗi con người.



Có thể, không phải mọi độc giả cầm trên tay “Nỗi buồn chiến tranh” đều từng là những người lính, đều đã rửa máu của mình trong gió bụi nơi chiến trường như Kiên. Thế nhưng, Bảo Ninh đã dùng chính ngòi bút của mình để người đọc không chỉ nhìn thấy được bản chất chiến tranh mà hơn hết là nhìn thấy những gì chiến tranh đã để lại, không phải những miền đất chết mà là những linh hồn chết. Đi vào thế giới nội tâm của Kiên, trôi theo dòng hồi ức để soi vào những đứt gãy, những nỗi ám ảnh, những ký ức không cách nào trốn chạy và người ta hiểu được rằng, thứ chiến tranh cướp đi không phải là mạng sống mà là ý chí để sống, chiến tranh có thể buông tha cho sinh mạng con người nhưng không chối từ việc tước đoạt đi ý thức tồn tại. Những con người trở về từ chiến tranh, cũng giống như chúng ta, đi qua một cơn dư chấn ầm ĩ trong nội tâm và vĩnh viễn, không thể trở lại như ban đầu, vĩnh viễn phải sống, phải chịu đoạ đày bởi vết thương không bao giờ khép miệng kia. Người ta đọc văn chương có thể biết được sự đổ nát của thế giới sau một cuộc chiến tranh, cũng như một cơn đại dịch, nhưng quan trọng hơn hết chính là nhìn thấy được sự suy sụp của lòng người và sự lạc lối, vô định đến hoang mang trong chính tâm hồn mình.



Văn chương đem đến cho con người ta sự nhận thức, không phải để chấp nhận những gì đã có và đang có, không phải để thừa nhận một lần nữa những điều đang diễn ra. Giá trị thực sự của văn chương chính là dùng sự thật để con người ta vượt qua chính sự thật đó. Phơi bày ra trước mắt con người ta một thế giới tàn khốc với đầy những rạn nứt, nhà văn không dồn con người đến bước đường bi quan, trốn chạy hay chối bỏ nó mà muốn con người ta dũng cảm đối diện, đi qua và khắc phục nó. Nói như Aristote, bi kịch là một sự thanh lọc. Văn chương dùng hiện thực và bi kịch bên trong nó, dùng những gì con người muốn khước từ, né tránh để thanh lọc thế giới. Sự thanh lọc đó xuất phát từ cách văn chương phản tính con người bằng sự thật để rồi trở thành ngọn đèn định hướng cho con người nhìn ra những ngã rẽ mà mình có thể bước đi. Ở đó, người ta nhìn thấy vô vàn những chọn lựa, chọn lựa để sống và chết, chọn lựa để hy vọng rồi đổi thay và cả những chọn lựa để tiếp tục lụi tàn cùng thực tại tăm tối. Văn chương không giáo điều, dạy dỗ hay cưỡng cầu, ép buộc, nó cho con người ta nhìn thấy thật nhiều những khả năng còn con người thì liệu có một ai đâu, chọn lựa những điều tồi tệ?



Viết về “thế hệ mất mát” với những tiệc tùng xa hoa hoà trong điệu jazz man mác, trầm tư, Francis Scott Key Fitzgerald đã đưa người đọc bao thế hệ trở về với thập niên 20 của thế kỉ trước qua kiệt tác “Đại gia Gatsby”. Câu chuyện là cuộc chạy đua của con người với sự leo thang của bạc tiền; là những “đổi chác, bán buôn” mà cái giá để có được địa vị, quyền quý là chính hạnh phúc của cả một đời người. Con người thuộc về thời hậu chiến đã phải đánh mất mình vì những “đốm xanh” phù phiếm mà ngay cả khi “nó đã tuột khỏi tay chúng ta” thì “chúng ta cứ thế dấn bước, những con thuyền rẽ sóng ngược dòng, không ngừng trôi về quá khứ”. Mỗi người đều như Gatsby, mang trong mình những khao khát, đam mê và thậm chí là cuồng vọng để rồi rong ruổi chạy theo giấc mơ của mình trong cơn mộng du. Vậy thì, ta sẽ chọn chứ, một cuộc đời như Gatsby, một cuộc đời cứ mải miết chạy theo cái đốm xanh xa xôi, hão huyền? Ta sẽ chọn chứ, những ảo mộng đã nát tan từ dĩ vãng xa xưa? Gatsby chết đi giữa những dở dang, vỡ mộng, vậy còn ta, liệu có tiếp bước để trở thành nạn nhân từ chính những ước mơ của mình. Đó là chọn lựa của ta, ta có thể chọn như Gatsby nhưng ta cũng có quyền nhìn vào Gatsby để làm khác đi, để sống hạnh phúc hơn, trọn vẹn và ý nghĩa hơn. Bằng cách ấy, văn học đã thanh lọc ta, thanh lọc và cảm hoá từ chính những điều bi thảm nhất.



Như đã nói, văn chương muốn cứu rỗi con người, không nằm ở việc thay đổi quy luật sanh-lão-bệnh-tử, nhà văn chữa trị cho nhân gian không thể hiện ở việc cải tử hồi sinh cho con người. Sự cứu chữa của văn chương là sự cứu chữa đối với tâm hồn, với thế giới nội cảm của con người. Bởi lẽ, văn chương dù là thể loại nào, từ những bài ca dao than thân của những người lao động lam lũ đến những khúc sử thi bất hủ của Homer, từ những câu chuyện cổ tích quen thuộc với những đứa trẻ con cho đến những tác phẩm đồ sộ của Lev Tolstoi, tất cả không chỉ làm nên bởi tư tưởng của nhà văn mà cần hơn hết là tình cảm, cảm xúc của người nghệ sĩ. Đó mới chính là linh hồn, là sợi dây kết nối văn chương với thế giới. Chính những tâm tư tình cảm này mà văn học mới chạm đến được đời sống nội tâm của người đọc, để cho con người ta có thể tin tưởng mà mở lòng mình ra đón nhận những sáng tác này. Văn chương đi từ tâm hồn người viết đến trái tim người đọc, xoa dịu và chữa lành những ưu tư, muộn phiền lẫn niềm đau, thương tổn. Văn chương tạo dựng được niềm tin trong lòng người, niềm tin giữa con người với thông điệp mà tác phẩm gửi gắm, từ đó phát triển thành niềm tin giữa con người đó với thế giới mà họ đang sống. Cuối cùng, văn chương tạo dựng niềm tin giữa con người với con người, nhờ sự thanh lọc, nhờ những điều tốt đẹp, nhờ hy vọng, ước mơ. Niềm tin đó trở thành động lực, giống như cách Scarlett O’hara đã luôn nói “Sau tất cả, ngày mai sẽ là một ngày mới”, một ngày mới và tất cả sẽ tốt hơn, một ngày mới và đống hoang tàn trước mắt sẽ thành quá khứ, một ngày mới - chỉ cần tin như vậy thì sẽ lại nhìn thấy khởi đầu, nhìn thấy những điều tốt đẹp. Có như vậy, con người ta can đảm chọn lựa cuộc sống dẫu có đi qua bao nhiêu biến cố, thăng trầm. Niềm tin gắn kết con người với sự sống. Bệnh tật có thể tước đoạt đi một thể chất khoẻ mạnh, có thể dày vò người ta bằng những cơn đau thể xác. Thế nhưng, chỉ cần tinh thần của con người còn có niềm tin vào những điều tốt đẹp, vào sự sống, tương lai, có niềm tin vào chính nội lực sinh tồn của mình thì sự sống vẫn ở đó. Con người có thể chết đi nhưng niềm tin và khao khát sống sẽ ở lại, để lan toả, tạo thành động lực và cũng là niềm tin cho những người còn sống mai sau.



Không phải là cơn đại dịch đầu tiên mà nhân loại phải trải qua, nhưng điều đó không đồng nghĩa rằng bảy tỉ người trong chúng ta có thể bình thản mà đối diện với nó. Đại dịch xuất hiện, con người phải gánh chịu rất nhiều hậu quả và dư chấn mà nó để lại, tất cả có thể trở thành những mất mát, những vết thương không bao giờ liền miệng trong nhận thức của chúng ta. Những đau thương đó, rồi sẽ hoá thành ký ức nhưng chúng ta cũng không cách nào xoá nhoà nó đi, chúng ta chỉ có thể tiếp tục sống cùng nó, xem nó là một phần bên trong mình nhưng ngừng cảm thấy đau đớn, buồn rầu. Và để đối mặt, chấp nhận rồi sống cùng những vết thương bên trong mình, chúng ta có văn chương, có nghệ thuật, như một chỗ dựa luôn luôn đồng điệu, luôn luôn thấu hiểu. Đó cũng chính là lý do, chúng ta cần đến những người nghệ sĩ, những người mang lĩnh nỗi buồn cùng nhân gian và nâng đỡ con người, đi qua những cuộc bể dâu.



🌿NGUYỄN ĐỨC LAM THẢO

 

 


Bài làm

Có bao giờ ta lắng nghe âm thanh một tiếng chim đang hót, có bao giờ ta lắng nghe tiếng lách tách của hạt mưa sa? Có bao giờ ta lắng nghe những lời ru êm dịu và chìm vào giấc ngủ si mê? Có bao ta được lắng nghe lời nói chân thành an ủi khi đớn đau, lời khích lệ khi ta thành công…? Cuộc sống hiện tại bình dị vậy đó, bình dị mà cũng bình yên đến lạ. Nó vẫn luôn ẩn chứa một vẻ đẹp tiềm tàng, vĩnh cửu mà con người ta phải sống sâu với đời, phải lắng nghe sâu sắc thì mới nhận ra. Vì bởi lẽ, nếu thính giác là một giác quan thì lắng nghe chính là nghệ thuật. Vâng, sự cần thiết phải lắng nghe là không  thể phủ nhận, như đoạn trích từ "Hiểu về trái tim" đã bàn luận: " Chữ "lắng nghe" có ý nghĩa rất hay. Phải "lắng" thì mới "nghe" được. Cho nên "lắng" là ngõ vào của "nghe". Không "lắng" thì không thể "nghe" trọn vẹn. "Lắng" chính là sự im lặng sâu sắc của con tim. Hãy tập lắng nghe bằng chính con tim mình."

 

Cuộc sống muôn hình vạn trạng là đa chiều những âm thanh sắc điệu. Ở nơi ấy, quả thật lắng, nghe, lắng nghe là vô cùng cần thiết. Tục ngữ có câu: “Nói là bạc, im lặng là vàng, lắng nghe là kim cương”. "Lắng nghe" là kim cương ư? Xem ra có vẻ quý giá và quan trọng, nhưng thế nào là "lắng nghe"? "Lắng" ấy chính là sự im lặng sâu sắc của con người từ tận đáy con tim, là sự im lặng nơi trí tuệ để ta suy tư, nghiền ngẫm thấu đáo. "Lắng" là sống chậm lại, đập nhẹ nhàng theo từng nhịp đập của trái tim, của cuộc sống. Và "lắng" chính là ngõ vào của nghe. Không "lắng" thì không thể "nghe" trọn vẹn. Phải "lắng" thì mới nghe - mới thấu hiểu, sẻ chia, đồng cảm được. Vì chưng, "nghe" chính là sự đồng điệu giữa 2 con người trong giao tiếp. "Nghe" là thái độ im lặng khi người khác nói, là thái độ tôn trọng chính mình cũng như người đối diện, gây thiện cảm cho người khác. "Nghe" còn là sự mở lòng rộng ra, đón nhận những vang vọng của cuộc sống, lẫn tiếng lòng chính mình. Vâng, và chữ "lắng nghe" có ý nghĩa rất hay, sự lắng nghe rất quan trọng trong cuộc sống. Bởi lẽ, "cái đáng sợ nhất là căn bệnh không chịu lắng nghe, đó  là một tệ nạn hết sức phổ biến" (Shakespeare)

 

Một họa sĩ đã họa cuộc đời như một khối rubic, để nói lên cái đa diện, nhiều chiều của cuộc sống. Giữa cuộc sống muôn màu vạn vẻ ấy, "lắng nghe" chính là tâm điểm cho mọi cảm nhận sâu sắc, là chiếc chìa khóa giải mã khối rubic đa chiều ấy, để mỗi người thấu hiểu nhau hơn, gắn kết chặt chẽ với nhau hơn, để chính bản thân họ mở ra cánh cửa thành công. Không là tâm điểm sao được khi mà con người ta biết lắng là biết suy ngẫm, nghiền ngẫm kĩ càng, thấu đáo và thông suốt hơn, khi mà con người ta biết nghe là biết mở rộng lòng mình, trái tim mình ra. Ta càng đón nhận, càng mở lòng thì mới càng cảm nhận, thấu hiểu được cuộc sống sâu sắc, càng biết cách sống sao cho ý nghĩa, cho phải lẽ, không hời hợt, phung phí. Khi lắng nghe, ta sẽ thấu hiểu nhau, tránh gây hiểu lầm đáng tiếc, sẽ tránh được  hành động, lời nói nhất thời hồ đồ, nông cạn ngốc nghếch, để rồi từ đó chín chắn và thấu đáo, sáng suốt và khôn ngoan nhất có thể, mở ra con đường sáng lạn tiến xa hơn trong tương lai, sự nghiệp.. Và, mỗi lần lắng nghe là mỗi lần ta học được điều bổ ích, mới mẻ cho chính mình. Tựu trung lại, lắng nghe quả là rất cần thiết. Biết cách lắng nghe là điều vô cùng  quan trọng trong cuộc sống. Lắng và nghe luôn phải song hành cùng nhau thì mới thật sự là "nghệ thuật". Bởi vậy, hãy biết kết hợp hài hòa giữa "lắng" - "nghe" , hãy tập lắng nghe để hiểu trái tim mình, trái tim người, trái tim đời.

 

Một tiếng chim kêu buổi sớm khiến ta thêm yêu cuộc sống, một điệu nhạc hay ru ta vào giấc ngủ, một lời nói chân thành có thể an ủi ta khi đớn đau… Thử hỏi rằng, những điều kì diệu ấy của cuộc sống liệu có được không nếu ta không biết lắng nghe? Một bước, hai bước, ba bước…cuộc đời là những bước đi của mỗi người, đã có biết bao nhiêu con người với việc "lắng nghe" gặt hái được những thành công rực rỡ. Hãy nhìn xem những cô cậu học trò biết lắng nghe thầy cô giảng, đã làm tốt bài thi của mình. Thành công đó, nhỏ bé thôi nhưng nếu không lắng nghe, liệu họ có làm được như thế? Hãy nhìn xem con cái biết lắng nghe lời cha mẹ dạy dỗ đã nên người ra sao. Thử hỏi rằng, nếu lơ đi, cãi lại lời cha mẹ, liệu họ có trở thành  người công dân tốt như ngày hôm nay? Từ những công nhân, nhân viên đến những nhà kinh doanh, nhà chính khách cũng thể hiện rõ nét điều ấy. Những ai lắng nghe ắt sẽ thành công, thăng tiến trong sự nghiệp. Còn nếu không, cánh cửa tươi sáng của tương lai sẽ chẳng có cơ hội nói lời chào mừng họ. Có những người đã thành công, rất thành công, được  thăng chức, kí kết thuận lợi hợp, thuyết phục vừa lòng khách hàng… Vâng, là nhờ lắng nghe đấy!

 

Ngắm nhìn cuộc sống vận chuyển theo quỹ đạo của nó, ta như quay cuồng với thời gian, để rồi, ta nhận ra rằng, ở thời đại nào, bất cứ đâu con người ta cũng luôn biết lắng nghe. Điển hình là Washington. Thuở nhỏ, vì nghịch ngợm, hiếu động, ông đã lỡ chặt cây anh đào mà cha ông rất yêu thích. Trước sự tức giận của cha, Washington đã thừa nhận tất cả lỗi lầm. Những tưởng người cha ấy sẽ trừng phạt con mình, nhưng không, ông đã tha thứ cho con trai vì dám nhận lỗi, đã răn dạy con nhẹ nhàng, mà nghiêm khắc. Như vậy, người cha ấy đã lắng nghe, đã "lắng" để ngẫm nghĩ, thấu hiểu cho lầm lỗi của con, đã "nghe" để biết con mình đang hối hận, nhận lỗi. Để rồi ông đã bao dung dung thứ cho đứa con trai nghịch ngợm ấy. Có lẽ, vì cha đã biết lắng nghe, đã nhẹ nhàng răn dạy con mà không trừng phạt khắc khe như gieo vào tâm hồn đứa trẻ những lời dạy đáng khắc cốt ghi tâm. Vâng, và chính Washington cũng đã biết "lắng nghe", ông đã nghe, đã thấu, đã suy ngẫm,  kiểm điểm lại mình, từ đó đem ra thực hành lời cha dạy. Nếu Washington không biết lắng nghe như thế thì thử hỏi rằng, liệu ngày hôm nay chúng ta có thể có vị tổng thống vĩ đại đầu tiên của nước Mĩ không? Hay phải kể đến là chị Nguyễn Ngọc Khanh, thủ khoa khối D trong kì thi đại học vừa qua. Đạt được một số điểm đáng khâm phục vô ngần, cô nữ sinh Trường THPT Chuyên ĐH Sư phạm Hà Nội đã biết lắng nghe, lắng và nghe rất nhiều. Phải nói rằng, cô lắng nghe thầy cô, lắng nghe gia đình và lắng nghe bạn bè. Để rồi suy ngẫm, để rồi hành động sáng suốt, sửa chữa những khuyết điểm, và để rồi ngày hôm nay là thủ khoa với thành tích học tập ngưỡng mộ, với tổng điểm 3 môn Toán Văn Anh là 29. Chẳng phải là nhờ lắng nghe đó sao?

 

Lắng nghe không chỉ đem đến thành công cho ai đó được đặc cách, mà còn đem đến những sự đồng cảm, đồng điệu trái tim, những an ủi đáng trân trọng cho bất kì người nào. Tại sao ư? Trong thời điểm lũ lụt càn quét dữ dội, biết bao tiếng kêu đau thương, tiếng khóc mất mát của đồng bào miền trung đang vang vọng. Nhưng nó chẳng lẻ loi đâu, đồng bào cả nước vẫn luôn lắng nghe, hướng về để rồi cùng chung tiếng nấc nghẹn ngào, tiếng khóc đau xót xa, để rồi họ đồng cảm, họ sẻ chia, đem tất cả vật chất ủng hộ, trợ giúp đồng bào miền trung, gửi gắm tất cả những lời động viên, nâng đỡ tinh thần đến đồng bào đang gặp lũ. Vâng, con người ta ai cũng có trái tim, ai cũng sẽ biết lắng nghe, lắng đọng, thấu hiểu. Phải có "nghe" thì họ mới biết được tình cảnh những con người miền Trung tội nghiệp. Phải có "lắng" lòng mình, thì họ mới biết xót xa, biết cảm thông, biết sẻ chia như thế. Phải có "lắng" lòng mình thì họ để rồi thấu nghe trọn vẹn những mất mát, thương đau mà tê tái lòng người. Đó chẳng phải là hành động tương thân tương ái, những nghĩa cử cao đẹp kia hay sao?

 

Lắng nghe người, lắng nghe đời là thế, song lắng nghe chính bản thân mình cũng là điều không thể thiếu. Lắng nghe trái tim mình để hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng, ước mơ khát vọng của bản thân, để hiểu chính mình và sống đúng với con người thật của mình. Như Nick Vujicic đã lắng nghe tiếng nói nội tâm để dù hoàn cảnh nghiệt ngã, dù nhiều người nói những điều không hay với ông, thì ông vẫn vững một niềm tin vào bản thân, vượt qua nghịch cảnh đến sống cuộc sống “không giới hạn”. J.K.Rowling, dù đã phải nghe nhiều lời từ chối, cho rằng mình không thể thành công, thì vẫn lắng nghe chính mình, tin vào bản thân để gửi bản thảo Harry Potter đến nhiều NXB khác, tìm cơ hội cho mình, cô đã thành công nhờ tin vào tài năng của mình, để từ một người mẹ đơn thân sống nhờ vào trợ cấp xã hội, đã trở thành nhà văn nổi tiếng toàn cầu, mang đến thế giới kì ảo chinh phục trái tim triệu trẻ em trên thế giới.

 

Dẫu thế, cuộc đời vẫn còn đó những trái tim vẫn đập nhưng lạc mất nhịp sống. Đó là con tim vô cảm, dửng dưng, phớt lờ cuộc đời của những người chẳng chịu lắng nghe những vang vọng của đời, của người và của chính mình. Con người ta chỉ cần nghe bằng tai nhưng phải cần lắng nghe bằng chính cả trái tim, bạn ạ! Nếu ai kia chỉ "nghe", mà không "lắng", hay thậm chí là không "lắng nghe" thì đáng chê trách thay! Nếu ai kia coi rằng "lắng nghe" là không cần thiết, chỉ thích thể hiện, phô trương, tự tôn mình là hiểu biết lại lại càng đáng chê trách làm sao! Và nếu ai kia đang thích lắng nghe lời xu nịnh, nịnh hót, ngọt như đường, như mật, nhưng nào có chân thành, thì cũng đáng chê trách biết nhường nào! Bởi lẽ, lắng nghe là vô cùng cần thiết. Cuộc đời rộng lớn như biển bao la, ta nào có biết "bụng" đời, "bụng" người sẽ ra sao nếu không biết "lắng", nếu chẳng biết "nghe" để mà nghiền ngẫm, để mà mở lòng, để mà sống chậm rãi lại, để mà biết cách đối nhân xử thế, biết cách ứng biến giữa biển động, trước bao hỷ-nộ-ái-ố cuộc đời. "Con người là tổng hòa của những mối quan hệ xã hội" thử hỏi rằng nếu không lắng nghe thì ta sẽ thấu hiểu được ai, sẽ làm sao nhận ra bản chất của con người? Những kẻ không lắng nghe sẽ không học hỏi được điều mới mẻ, sẽ không nhìn nhận khuyết điểm của bản thân và mãi chẳng sửa chữa cho hoàn thiện được, thì liệu có ngày thành công chăng? Hãy nhớ rằng, "kẻ thành công phải là người biết lắng nghe". Những kẻ không lắng nghe sẽ không thể nhìn nhận và đánh giá một vấn đề đa chiều, sẽ không thể cảm nhận được sâu sắc nhất cuộc sống này. Những kẻ thích thể hiện, phô trương ấy sẽ là những kẻ phiến diện tiên phong, và có lẽ, chính họ sẽ sớm chuốc lấy hậu quả vì sự hồ đồ, "ta đây" đó. Còn những kẻ thích lắng nghe "lời đường mật" thì thôi rồi, rồi mai này, họ làm sao phân biệt minh bạch được phải-trái, đúng-sai? Khi mà cứ mãi nghe lời không thật lòng, sự thật sẽ bị lu mờ, họ bị làm cho hoa mắt. Có thể là vừa lòng đó, nhưng tác hại của lời xu nịnh đó, liệu họ có lường trước được? Con người ta cần phải biết nhìn nhận, biết lắng nghe và lắng nghe đúng lời, đúng người, thì mới mong thông suốt các vấn đề trong cuộc sống. Chúng ta hãy khuyên răn, giúp đỡ họ nhận ra điều ấy, để họ biết lắng lòng mình lại, để "lắng" - "nghe" và "lắng nghe".

 

Lắng nghe là đúng, là tốt, là quan trọng song cần lắng nghe có chọn lọc. Ta không nên nghe theo những lời giả tạo, xu nịnh, nếu đó là lắng nghe những lời xúi giục tầm bậy, nếu đó là lắng nghe một cách thụ động. Và không phải lúc nào lắng nghe cũng là im lặng, gật đầu đồng ý lặng lẽ, phản ứng chậm rãi. Đôi lúc ta cần phải nhanh nhẹn, quyết đoán. Ta phải lắng nghe và đáp trả thông minh, đúng lúc, biết phản biện, biết đấu tranh cho chính kiến tư tưởng cá nhân. Nếu không, e rằng cơ hội của bạn sẽ vụt bay về tay kẻ khác. Nếu không, e rằng bạn sẽ dung túng, ủng hộ cho những điều sai trái, răm rắp nghe theo những vu khống bịa đặt. Vậy nên, hãy lắng nghe đúng lời, đúng người và trả lời đúng thời điểm, bạn nhé!

 

Sự cần thiết của lắng nghe quả là không sao phủ nhận được. Đó không chỉ là lắng nghe người khác, lắng nghe âm thanh của cuộc sống, của thiên nhiên, mà còn là lắng nghe chính mình. Đừng chỉ biết lắng nghe người khác mà lại không thể lắng nghe chính mình! Ta cũng cần phải lắng nghe chính bản thân để biết điều chỉnh bản thân, nhận ra cách đối nhân xử thế sao cho hợp tình, hợp lý…Để rồi tự mình tạo ra phong thái tốt đẹp của một nhân cách tốt đẹp. Để rồi tự mình làm giàu cảm xúc, kiến thức bản thân, hoàn thiện con người tốt hơn.

 

Biết rằng cuộc sống cứ mãi tất bật, như một dòng suối chảy xiết, như con thác cứ cuồn cuộn những dòng nước mới sa đã khiến việc lắng nghe trở nên khó khăn, ai cũng bận rộn, chìm đắm vào cuộc sống của riêng mình. Nhưng bạn ơi, hãy tranh thủ, nghỉ ngơi một chút, một chút thôi, để ta thư thái, thả tâm hồn mình nghe ngóng những âm thanh từ thiên nhiên, cuộc sống. Biết rằng guồng quay đều đặn của thời gian vẫn cứ quay, no vẫn cứ cuốn con người ta vào vòng quay bộn bề của cuộc sống, ai cũng vội vã với các cuộc hội họp, cuộc vui đùa, trong những câu chuyện chẳng đầu chẳng cuối, người ta cốt chỉ nghĩ sao cho mình được phát biểu nhiều hơn, chứ chưa bao giờ nghĩ cách làm sao cho mình được lắng nghe nhiều hơn cả. Bạn ơi, xin đừng sống vội, sống nhanh như thế, xin đừng mải mê chạy đua với thời gian, với cuộc đời mà quên bẵng rằng, tâm hồn chúng ta đôi lúc cũng cần lắng lại để được lắng nghe!

 

Nhận thức được sự cần thiết phải lắng nghe, tôi tự nhủ sẽ học cách lắng nghe nhiều hơn, sâu hơn, biết lắng, và biết nghe, biết chọn lọc nhìn nhận, suy xét nghiền ngẫm những điều mình lắng nghe được một cách kĩ càng chứ không phải là răm rắp nghe theo vô tội vạ mà chẳng cần biết đúng sai. Tôi sẽ có thái độ lắng nghe đúng mực, và biết hành xử sau khi lắng nghe hợp tình hợp lý nhất có thể.

 

Chữ "lắng nghe" quả thật có ý nghĩa rất hay. Phải "lắng" thì mới "nghe" được. Không 'lắng" thì không thể "nghe" trọn vẹn. Vâng, sự cần thiết phải lắng nghe, tầm quan trọng của việc  kết hợp hài hòa giữa lắng lòng mình và nghe âm thanh quả là không sao phủ nhận. Nếu thành công kia, sự thấu hiểu kia là bầu trời, thì lắng nghe sẽ là đôi cánh nâng tôi bay lên đạt được điều đó. Và phải chăng lắng nghe cũng chính là biểu hiện của yêu thương? 

 

NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC

THCS TÂY SƠN

 Đề: “Tác phẩm nghệ thuật nào cũng xây dựng bằng những vật liệu mượn ở thực tại. Nhưng nghệ sĩ không những ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói một điều gì mới mẻ.’’ (Nguyễn Đình Thi, Tiếng nói văn nghệ)

Hãy chứng minh nhận định trên qua các tác phẩm em đã học.

"Nhà thơ như con ong biến trăm hoa thành mật ngọt

Mỗi giọt mật thành đôi vạn chuyến ong bay"

(Chế Lan Viên)

     Nếu văn học như một bản hòa tấu du dương được dệt nên từ những nốt nhạc của cuộc đời, như tấm thảm thực tại rực rỡ, thì người nghệ sĩ được ví như một nhiếp ảnh gia tài ba, biến hóa văn học qua nét bút tài tình của mình, để viết nên những tác phẩm để đời. Người nghệ sĩ trong cuộc hành trình dấn thân vào "vạn chuyến ong bay", trải nghiệm cuộc sống để phản ánh cuộc đời, để biến "một mật" thành "trăm hoa" qua từng lăng kính chủ quan của chính mình. Có người nhìn đời bằng đôi mắt u buồn thì sự buồn bã cũng nhuốm màu lên toàn bộ cảnh vật, nhưng lại có người ngắm nhìn cuộc sống bằng đôi mắt trong veo, trẻ thơ với đầy sự tò mò thì cảnh vật tự nhiên trở nên tươi sáng, tràn đầy cuộc sống. Cuộc đời muôn hình vạn trạng qua đôi mắt của người nghệ sĩ trở nên muôn màu vạn vẻ, vô vàn nét đẹp, muôn vàn sắc thái mới mẻ, vô ngần những tư tưởng tình cảm, những triết lý nhân sinh. Để rồi: "Tác phẩm nghệ thuật nào cũng xây dựng bằng những vật liệu mượn ở thực tại. Nhưng nghệ sĩ không những ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói một điều gì mới mẻ" (Tiếng nói văn nghệ - Nguyễn Đình Thi)

    "Văn học không chỉ là văn chương mà thực chất là cuộc đời. Văn học sẽ chẳng là gì cả nếu không vì cuộc đời mà có. Cuộc đời là nơi xuất phát cũng là nơi đi tới của văn học." (Tố Hữu). Vâng, và ở đó, thi nhân lấy mảnh đất thực tại làm sàn nhảy để biểu diễn những điệu nhảy độc đáo, mới mẻ, cuốn hút của mình. Thật vậy, nhận định của Nguyễn Đình Thi trong "Tiếng nói văn nghệ": "Tác phẩm nghệ thuật nào cũng xây dựng bằng những vật liệu mượn ở thực tại. Nhưng nghệ sĩ không những ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói một điều gì mới mẻ’’ cũng thể hiện sâu sắc điều đó. Trước hết, "vật liệu" ở đây chính là yếu tố vật chất, yếu tố nguyên liệu để làm nên tác phẩm nghệ thuật, chính là hiện thực cuộc sống bộn bề, rộng lớn, đòi hỏi nhà văn cần đào sâu, tìm tòi, khám phá để nhận ra bản chất. Nhưng nhà văn không chỉ "ghi lại cái đã có rồi" mà Nguyễn Đình Thi còn nhấn mạnh anh ta "muốn nói một điều gì mới mẻ". "Điều gì mới mẻ" ấy chính là sự sáng tạo, sự độc đáo của người nghệ sĩ, thể hiện ở những góc nhìn riêng, những phát hiện riêng, những cách lý giải riêng mang đậm dấu ấn chủ quan của người nghệ sĩ, những triết lý nhân sinh, những thông điệp mới mẻ… Tựu trung, nhận định của Nguyễn Đình Thi đã đề cập đến mối quan hệ biện chứng giữa phản ánh và sáng tạo trong quá trình sáng tác. Một mặt, Nguyễn Đình Thi khẳng định tính hiện thực sâu sắc của tác phẩm nghệ thuật. Vì chưng, không một tác phẩm nào không khởi nguồn từ đời sống, cũng chẳng một tác phẩm nào mà không phản ánh thực tại cuộc sống.  Mặt khác, Nguyễn Đình Thi đề cao sự sáng tạo, in đậm dấu ấn sáng tác, khắc sâu thông điệp, triết lý nhân sinh của người nghệ sĩ trong quá trình xử lý, dung hòa chất liệu hiện thực để dệt nên một tác phẩm. 

    Quả thật, nhận định của Nguyễn Đình Thi là hoàn toàn xác đáng, chí lí, chí tình, đã lột tả sắc nét được nội dung phản ánh và quá trình được sáng tác của văn học. Vậy, vì sao "Tác phẩm nghệ thuật nào cũng xây dựng bằng những vật liệu mượn ở thực tại"? Hoài Thanh có câu: "Văn chương là hình dung của sự sống muôn hình vạn trạng". Vâng, văn học là tấm gương phản chiếu của thời đại. Ở nơi đó, nghệ thuật là hình thái ý thức xã hội đặc thù, theo quan điểm của triết học Marx, ý thức không tự thân tồn tại mà nó phải luôn bắt nguồn từ yếu tố vật chất - hiện thực cuộc sống xung quanh chúng ta. Để rồi, nghệ thuật chính là tấm gương phản ánh cuộc sống, mang đậm hơi thở thời đại. Hiện thực giờ đây là nguồn gốc của nhận thức, của ý thức, là mảnh đất màu mỡ nuôi dưỡng nghệ thuật và đồng thời là chìa khóa giải thích các hiện tượng phức tạp của nghệ thuật. Chỉ khi hướng về với hiện thực cuộc sống, với đời sống nhân dân, nhà văn mới có thể tìm được cho mình nguồn cảm hứng dồi dào, chất liệu sáng tạo đặc sắc, đáng giá cũng như tài năng và vốn sống của mình, có cơ hội trải qua "lửa thử vàng" để từ đó càng phát triển mạnh mẽ hơn, đặc sắc hơn.... Do vậy, vai trò của nhà văn là làm "người thư kí trung thành của thời đại". Trách nhiệm của nhà văn là phải thế hiện thực cuộc sống, nắm bắt được những mâu thuẫn cơ bản nhất của thời đại để từ đó đưa ra một hướng đi, một giải pháp, bày tỏ thái độ, một lối đi để cải tạo hiện thực cuộc sống.

Song, vì sao "nhà văn không chỉ ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói một điều gì mới mẻ"? Như tự nhiên không bao giờ lặp lại chính nó, từ thời điểm hành tinh này được hình thành, chưa bao giờ có hai bông tuyết hoặc hai giọt mưa nào giống hệt nhau, và cũng chẳng có cây cúc nào giống cây cúc nào, bản thân nghệ thuật là hoạt động của sự sáng tạo mang tính cá thể, không lặp lại người khác và không lặp lại chính mình.  Bên cạnh đó, bởi lẽ mỗi nhà văn sáng tác đều mong muốn ghi lại dấu ấn của mình trên cuộc đời. Thử hỏi một tác phẩm nhạt nhòa như bao tác phẩm khác, liệu có trường tồn? Thử hỏi một tác phẩm sao có thể cho là trường tồn, là hay nếu không được sự đón đọc, đánh giá cao của độc giả? Một tác phẩm muốn bất diệt phải là một tác phẩm kết tinh đủ đầy sự sáng tạo đặc sắc, cái độc đáo đắt giá của nhà văn qua tư tưởng tình cảm, qua triết lý nhân sinh mà họ đã gửi gắm. Một tác phẩm muốn sống mãi phải giành vị trí đặc biệt trong lòng bạn đọc, "người tạo ra tác phẩm là nhà văn, người quyết định sức sống của tác phẩm phải là độc giả". Nào có độc giả nào chấp nhận những điều quen nhàm, ủng hộ những nhà văn sao chép? Phải nói rằng nhu cầu của họ khi tìm đến văn chương là nhu cầu tìm kiếm những gì mới mẻ, mở mang đầu óc, tư tưởng tình cảm… Phải chăng đó cũng chính là quy luật đào thải khắc nghiệt của văn chương? Đúng, người không sáng tạo sẽ bị quên lãng! Điều này đòi hỏi nhà văn phải có những điểm đặc biệt không bị lẫn với người khác và không lặp lại với chính mình, phải có thứ "vân tay nghệ thuật riêng" in dấu trong lòng bạn đọc, thể hiện qua những tác phẩm đặc sắc, có giá trị. Người nghệ sĩ không nhìn đời bằng con mắt lãnh đạm, xuôi chiều, không bê nguyên hiện thực vào trong tác phẩm. Người nghệ sĩ phải nhìn đời bằng cả một trái tim nhân đạo, muốn nói lên cái to tát trong tâm can mình, muốn đứng lên là một nhà công lý, muốn là một "kĩ sư tâm hồn" đi "cứu rỗi thế giới".

"Anh ta lấy tất cả những lo âu, suy tư, hạnh phúc, khổ đau một đời làm củi

Có khi nhen nhóm cả một đời mới thiêu được một mồi

Ngồi lên chất liệu đời mình

Rót vào đấy xăng của thời đại

Rồi lấy mình ra làm lửa châm vào

Bài thơ rực cháy."

(Giàn hỏa - Chế Lan Viên)

Biết bao văn nhân, thi nhân đã hết mình, dành trọn khối óc, trí tuệ dệt nên những tác phẩm phản ánh hiện thực, song vẫn đủ đầy tính sáng tạo, độc đáo, đủ đầy triết lý nhân sinh, tư tưởng tình cảm. Vâng, và Nam Cao cũng thế, ông đã đốt lên giữa đời tác phẩm "Lão Hạc" rực cháy. Rõ ràng, Nam Cao đã sử dụng những "vật liệu mượn ở thực tại" chính là những xung đột, mâu thuẫn giai cấp gay gắt gỏng xã hội nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng 8, chính là những khốn cùng đến bế tắc của những người nông dân trong xã hội lúc bấy giờ. Hãy nhìn xem, Lão Hạc - một người nông dân đã có tuổi, tưởng rằng sẽ sung sướng, được hưởng an yên tuổi già, song số phận lão đáng để ta phải xót xa. Lão nghèo đói, thiếu thốn trăm bề, nghèo đến mức phải bán đi Cậu Vàng - chú chó, người bạn trung thành luôn kề vai sát cánh bên lão. Lão bán Cậu Vàng mà không đau lòng sao? Kì thực, nào có còn con đường khác cho Lão chọn chăng? Đến cuối cùng bất hạnh vẫn trút xuống cuộc đời lão, đẩy lão đến bần cùng bế tắc. Lão yêu thương cậu Vàng, coi chú chó của mình như con ruột, thế mà vì sự nghèo, lão vẫn phải bán nó đi. Để rồi, lão ân hận, khổ râm xiết bao, đau đớn đến nỗi khóc hu hu như một đứa trẻ. Phải thấu hiểu cuộc đời lắm, Nam Cao mới có thể miêu tả một cách chân thực hình ảnh Lão Hạc khóc, chân thật đến nỗi xoáy sâu vào tâm can của từng độc giả. “Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít! Lão hu hu khóc!” Người già thường rất ít khi khóc, bởi lẽ, sóng gió cuộc đời đã làm cho họ cứng cáp, thâm trầm hơn rất nhiều. Ấy thế mà lão Hạc, chỉ vì bán đi một con chó mà lại khóc đau đớn đến thế. Phải chăng, lão khóc vì cảm thấy có lỗi với cậu Vàng, có lỗi khi nhẫn tâm đi lừa một con chó? Phải chăng, vì bởi lão quá thương con, để rồi khi bán đi tín vật duy nhất mà con trai để lại, lão đau khổ cùng cực? Hay, phải chăng, giọt nước mắt ấy, lão khóc cho chính lão, khóc vì dồn nén bấy lâu nay, đau khỏi quá, bần cùng quá, hay khóc cho cái chết của mình sau này? Nghèo đến mức phải bán đi người bạn thân thiết nhất, Lão Hạc buộc phải chọn đến cái chết! Bởi, càng sốt, lão sẽ càng khổ sở, càng sống, lòng lương thiện, sự trong sạch mà cả đời lão bảo vệ cuối cùng cũng sẽ vì chữ nghèo mà tha hóa. Chỉ có cái chết mới có thể giải thoát cho lão. Đấy, tất cả đều thật sâu sắc, thật rõ nét nơi tác phẩm. "Lão Hạc" đã phản ánh chân thật hơn bao giờ hết xã hội tha hóa lúc bây giờ, con người ta bị dồn nén đến vực thẳm tuyệt vọng, đến cùng đường bế tắc. Thử hỏi rằng, nếu không "mượn vật liệu từ thực tại", liệu Nam Cao có lột tả được sống động, sâu sắc bối cảnh lúc ấy chăng? Thử hỏi rằng, nếu không "mượn vật liệu từ thực tại", liệu tất cả những gì ông viết, ông sáng tác có còn là chân thật? Thử hỏi rằng, nếu không "mượn vật liệu từ thực tại", liệu tác phẩm nghệ thuật, liệu văn học có còn là tấm gương phản chiếu thời đại, có còn nồng hơi thở của cuộc đời? Tất cả sẽ chỉ là hư vô, vô dụng nếu người nghệ sĩ không sử dụng những "vật liệu mượn ở thực tại", và sẽ chẳng có "Lão Hạc" sống mãi với thời gian như bây giờ.

Nhưng, Nam Cao đã không bê nguyên xi, y đúc cả một hiện thực tối tăm vào trong tác phẩm của mình. Ông đích thực là người "nghệ sĩ không những ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói một điều gì mới mẻ". Bởi chưng, có biết bao nhiêu nhà văn, nhà thơ viết về người nông dân, song Nam Cao vẫn là ngọn lửa cháy bỏng, rực sáng, giữa muôn hào quang văn chương. Ông đã gửi vào "Lão Hạc" một trái tim nhân đạo cao cả, một triết lý nhân sinh sâu sắc. Biết rằng cái chết tức tưởi của Lão Hạc là đau đớn, song đó cũng chính là cái nhân đạo độc đáo của Nam Cao. Để Lão Hạc chết là cất Lão khỏi xã hội tha hóa lúc bấy giờ, là bảo vệ những phẩm chất cao đẹp nơi người nông dân ấy, để nó không thể bị phá hủy trước ảnh hưởng đương thời. Để lão chết là để gửi gắm độc giả những triết lý nhân sinh về lòng tự trọng đẹp đẽ của con người, là "đói cho sạch rách cho thơm", là lương thiện, ngay thẳng giữa biến động cuộc đời. Có như vậy, "Lão Hạc" mới bất diệt với thời gian và sống mãi trong lòng bạn đọc.

Chưa dừng lại ở đó, cái mới mẻ của Nam Cao so với các nhà văn hiện thực phê phán đi trước còn là sự khám phá chủ đề về sự tha hoá. Chị Dậu của Ngô Tất Tố tưởng là đã khổ nhất, phải bán con bán chó, đoạ lạc đớn đau về tinh thần. Nhưng ít nhất chị Dậu vẫn còn được là con người. Đến Nam Cao, ông đã khám phá tấn bi kịch còn đau đớn hơn, đó là bi kịch bị tha hoá. Bi kịch của những con người sinh ra làm người nhưng tư cách con người đã bị tước mất. Chí Phèo đánh mất nhân tính sống đời con quỷ dữ làng Vũ Đại, đến khi nhân tính trở về, hắn phải chọn cái chết để bảo toàn nhân tính. Hộ trong “Đời thừa” đánh mất nhân tính trong vòng luẩn quẩn bi kịch tinh thần. Lão Hạc là một trường hợp đặc biệt, lão lựa chọn cái chết trước khi đánh mất nhân tính, trước khi cái ác chiếm hữu linh hồn lão, trước khi lão chấp nhận làm ác để sống, để tồn tại. Sự sáng tạo ấy của Nam Cao có ý nghĩa vô cùng sâu sắc, nó gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh, riết róng vẫy gọi đấu tranh thay đổi xã hội để cứu lấy những con người cùng khổ, những phận người “sống mòn”, “chết mòn”, bị xã hội phi nhân tước đoạt cả nhân hình lẫn nhân tính. Tựu trung lại, với Nam Cao, tác phẩm "Lão Hạc" đã kết tinh đủ đầy "vật liệu mượn từ thực tại" và cả "điều gì đó mới mẻ".

    "Thơ đòi cô đúc để rồi trong một phút nổ ra tiếng sét". "Tiếng sét" trong thơ bắt nguồn từ thực tại, mạnh mẽ vang lên, như vang lên cả một tâm hồn, khiến ta phải "giật mình" chợt nhận ra bản thân, "giật mình" chợt nhận ra những triết lý nhân sinh mới mẻ, những tâm tư tình cảm đời thường, những tiếng lòng xúc động của nhà thơ. Đọc "Ánh trăng" của Nguyễn Duy ta thấy thật rõ nét tiếng sét thực tại ấy, cũng như nghiễm ngẫm sâu sắc những triết lý mới mẻ của thi nhân:

"Hồi nhỏ sống với đồng

với sống rồi với bể

hồi chiến tranh ở rừng

vầng trăng thành tri kỉ

Từ hồi về thành phố

quen ánh điện cửa gương

vầng trăng đi qua ngõ

như người dưng qua đường"

     Vâng, như bao tác phẩm khác, "Ánh trăng" cũng mượn vật liệu ở thực tại. "Ánh trăng" phản ánh sống động, chân thực hiện thực. Bằng ngòi bút tài tình của mình  Nguyễn Duy đã khắc họa quá khứ tuổi thơ ở quê nhà "người" gắn bó khăng khít với "trăng", quá khứ ở chiến hào nơi rừng sâu thẳm "người" cũng gắn bó mật thiết với "trăng", "người" coi "trăng" là "tri kỉ", "trăng" hiểu "người" như hiểu chính mình, "người" hiểu "trăng" như hiểu chính mình. Quả thật, mối quan hệ giữa "người" và "trăng" là không sao tách rời, là nghĩa tình thủy chung. Nhưng đó chỉ là "ngỡ" là cứ "ngỡ", để rồi, lần này, hiện thực chính là sự bội bạc, thờ ơ của người đối với trăng. Con người quên trăng rồi, giữa thành phố phồn hoa đô hội, giữa "ánh điện cửa gương", "trăng" đâu còn là "tri kỉ", "trăng" bây giờ hiện diện cũng được, không cũng chẳng sao, "trăng" bây giờ đã hóa "người dưng". Tất cả được khắc họa chân thật đến xót xa thay! Vật chất kia đã xóa nhòa quá khứ ân tình thủy chung trong tâm can con người… Nguyễn Duy đã tinh tế lượm nhặt hình ảnh ấy từ thực tại đấy, điều này nào có xa vời đâu? Bởi lẽ, khi đủ đầy sung túc, vật chất hiện đại, con người ta thường quên đi quá khứ khó khăn, thiếu thốn, dẫu cho quá khứ ấy có chất chứa biết bao kỉ niệm tình nghĩa… Như vậy, Nguyễn Duy đã viết "Ánh trăng" bằng những vật liệu mượn từ thực tại, để "Ánh trăng" phản ánh sâu sắc thực tại, phản chiếu sống động cuộc đời. Song thi nhân không chỉ làm nên "Ánh trăng" một cách nhạt nhòa đến thế! Bằng tất cả sự tài hoa, tinh tế, bằng tâm huyết và trái tim của người nghệ sĩ, ông đã hòa quyện, đan cài đủ những tâm tư, tình cảm, triết lý nhân sinh:

"Trăng cứ tròn vành vạnh

kể chi người vô tình

ánh trăng im phăng phắc

đủ cho ta giật mình"

    Ánh trăng vẫn cứ "tròn vành vạnh", vẫn cứ vẹn nguyên tròn đầu, vẫn cứ giữ mãi ánh sáng bất diệt. Nhưng lòng người đã đổi thay, từng một thời gắn bó với trăng, xem trăng như người bạn "tri kỉ", giờ đây xem trăng như "người dưng qua đường". Để rồi trăng chỉ biết "im phăng phắc”, chỉ biết im lặng nhưng sự im lặng ấy đã khiến cho cả một con người phải nhận ra sự thay đổi của mình. Sự im lặng của trăng đã khiến cho nhân vật trữ tình phải “giật mình”. “Giật mình” như nhận ra rằng mình đã lãng quên đi quá khứ nhọc nhằn, là một sự thức tỉnh rất ý nghĩa: không được quên đi quá khứ, phải sống "uống nước nhớ nguồn", phải biết thủy chung, sống biết trước biết sau. Như vậy chỉ với cái “giật mình” thôi cũng đủ để thức tỉnh một tâm hồn tưởng như đã bị đóng băng với quá khứ. Nguyễn Duy như đang muốn vực dậy tâm hồn của mỗi độc giả, nhắc nhở một đạo lý rằng: “Ta bắn vào quá khứ bằng súng lục thì quá khứ sẽ bắn lại bằng đại bác”. Nếu không có Nguyễn Duy hay những nghệ sĩ khác liệu rằng ta có thể sống đẹp như thế không hay có lẽ sẽ trong cái vô tình lạnh nhạt, vô cảm? Từng dòng thơ của Nguyễn Duy như đang thoát li cuộc sống, gửi gắm những tư tưởng, tình cảm, những triết lý nhân sinh, thấm sâu vào con người, khiến cho ta phải ngẫm lại mình, “thấy mình trong đấy”, thấy bản thân đã từng như nhân vật trữ tình trong tác phẩm “Ánh trăng”. Như vậy, với "Ánh trăng" Nguyễn Duy đã "mượn vật liệu từ thực tại" nhưng người nghệ sĩ này "không những ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói một điều gì mới mẻ".

Gửi gắm triết lý nhân sinh thôi là chưa đủ, ở đây ta còn thấy cái sáng tạo, mới mẻ của thi nhân. Cùng viết về hình ảnh con người đối diện với ánh trăng, nếu Lí Bạch với "Tĩnh dạ tứ" khắc hoạ khoảnh khắc huyền vi kì diệu giữa người và trăng, trăng là chìa khoá mở ra cánh cửa hồi ức và hoài niệm để gọi thức nỗi nhớ cố hương, nếu Hồ Chí Minh với "Vọng nguyệt" khắc hoạ khoảnh khắc người tù đối diện với ánh trăng tri âm, tri kỉ để cảm nhận sự tự do tuyệt đối trong tinh thần, thì Nguyễn Duy với "Ánh trăng" khắc hoạ khoảnh khắc day dứt con người đối diện với ánh trăng, cũng là đối diện với lương tâm của chính mình, để rồi thức tỉnh, ăn năn. Đó chính là điều mới mẻ, độc đáo ở tác giả để dệt nên những vần thơ "Ánh Trăng". Như vậy, tác phẩm đan xen đủ đầy vật liệu mượn ở thực tại và điều mới mẻ tác giả gửi gắm.

   Cái nghiệp của văn chương bao giờ cũng là gánh nặng cuộc đời. Văn chương vì cuộc đời nảy mầm, sinh sôi, vì con người mà len lỏi. Không phải ai cầm bút cũng là nghệ sĩ. Điều quan trọng hơn hết trong lĩnh vực thơ ca và văn học, là người nghệ sĩ phải biết đưa “tác phẩm” của mình có sức sống, có chỗ đứng trong lòng người đọc. Các anh phải đưa tác phẩm vượt qua khỏi bờ cõi giới hạn của quy luật tự nhiên, “khơi những nguồn chưa ai khơi”, phải khiến thơ như những gì mà Raxum Gamzatop từng nói:

“Thơ là đôi cánh nâng tôi bay

Thơ là vũ khí trong trận đánh"

 Quả thật, "văn chương không cần đến người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho, văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa ai có” (Nam Cao). Quả thật, "Một nghệ sĩ chân chính phải là một nhà nhân đạo từ trong cốt tuỷ" (Sê-khốp). Mỗi tác phẩm nghệ thuật phải được viết nên từ hiện thực, để phản ánh rõ nét thực tại, đó là điều kiện cần. Song, người nghệ sĩ cần phải hòa vào tác phẩm ấy cái hồn của thi nhân, văn nhân, cái tư tưởng tình cảm độc đáo, triết lý nhân sinh mới mẻ, riêng biệt, đó là điều kiện đủ. Có như vậy tác phẩm nghệ thuật mới sống mãi với thời gian. Không chỉ "Lão Hạc" hay "Ánh Trăng" mới là tác phẩm nghệ thuật "mượn vật liệu từ thực tại", mà phải nói rằng "tác phẩm nghệ thuật nào cũng mượn vật liệu từ thực tại". Không chỉ Nam Cao hay Nguyễn Duy mới là những người nghệ sĩ "không những ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói một điều gì mới mẻ" mà phải nói rằng, đã là nhà văn, nhà thơ, dấn bước vào sự nghiệp sáng tác, hòa là một với văn chương, "cầm bút viết nên đời" cũng cần phải biết pha vào chất của mình, nét độc đáo, sáng tạo mới mẻ dựa trên nền tảng thực tại, gắn kết sâu sắc với thực tại:

"Người làm xiếc đi dây rất khó

Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn

Đi trọn trên con đường chân thật"

(Lời mẹ dặn - Phùng Quán)

 Và mong rằng, nhà văn nào, nhà thơ nào cũng biết đặt cả trái tim mình nơi mỗi tác phẩm, để mỗi sáng tác của anh ta sẽ là trường tồn, bất diệt:

"Người tù tử hình kia tình cờ trong túi còn hạt gạo

Biến thành con voi dâng cho vua

Vua tha cho người có tội mà đa tài ấy

Ồ, nếu anh không biết biến đời anh thành tác phẩm dành cho đời

Nên đời chẳng biết lấy cớ gì để tha cho anh cả"

(Hạt gạo - Chế Lan Viên)

    Hiện thực như một khung vải đa sắc màu, là nơi các tác phẩm nghệ thuật được thỏa sức thêu dệt nên bằng chính vật liệu thực tại, và bằng cả những mới mẻ độc đáo, sáng tạo riêng biệt của người nghệ sĩ. Như vậy, nhận định của Nguyễn Đình Thi: “Tác phẩm nghệ thuật nào cũng xây dựng bằng những vật liệu mượn ở thực tại. Nhưng nghệ sĩ không những ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói một điều gì mới mẻ.’’ là hoàn toàn đúng đắn.

 

NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC

THCS TÂN SƠN

 

 


      “Thời gian qua kẽ tay

        Làm khô những chiếc lá

        Kỉ niệm trong tôi

        Rơi

             như tiếng sỏi

                                 trong lòng giếng cạn

        Riêng những câu thơ

        Còn xanh…”

                                                (Thời gian, Văn Cao)

Vượt qua mọi định luật của sự băng hoại, thơ ca vẫn bất hủ cùng thời gian. Vậy phải chăng lý do khiến thơ mãi “còn xanh”, đó là vì nó là các tác phẩm được thi nhân viết nên bằng cây bút của những rung dộng tinh tế cùng với màu mực hiện thực? Đúng thế, cái hạt giống của thơ chỉ nảy mầm được trong trái tim độc giả nếu nó được nuôi dưỡng trong chất đất chứa hiện thực cuộc sống và những cảm xúc chân thành của người nghệ sĩ. Nhà thơ Chế Lan Viên cũng tâm niệm như vậy:

      “Bài thơ anh, anh làm một nửa mà thôi

        Còn một nửa cho mùa thu làm lấy”

Thơ ca là một sợi dây vô hình nối liền trái tim người nghệ sĩ với độc giả của anh, nhưng đó phải là thơ phát khởi từ xúc cảm người viết và thực tại cuộc sống. Như vậy, với Chế Lan Viên, “bài thơ anh, anh làm một nửa” đã khẳng định tầm quan trọng của những rung động tinh tế cần có trong tâm hồn người cầm bút. Anh làm thơ bằng trái tim của anh, nhưng đó phải là một trái tim biết vui cái vui và buồn cái buồn của đồng loại, đó phải là một trái tim biết yêu cái đẹp, cái cao thượng và hờn cái xấu xa, cái đê tiện. Một trái tim có xúc cảm còn là một trái tim đa cảm, nó biết hân hoan trước những niềm vui, nó biết đau buồn trước những sự sầu thảm. Bên cạnh đó, đó còn là trái tim đủ tinh tế để cảm nhận những biến chuyển, dù là nhỏ nhất, đang xảy ra xung quanh mình. Nói như Thạch Lam, một nhà thơ có một trái tim rung cảm sẽ “cảm nhận mọi vẻ đẹp man mác của vũ trụ”.

Và “một nửa cho mùa thu làm lấy” là sự thừa nhận việc cái chất hiện thực đang góp phần làm nên thơ. Cuộc sống tồn tại trong thơ khi nó được chính thơ phản ánh. Khi đó, thơ khám phá bản chất và các khía cạnh của cuộc sống. Thơ đi sâu vào cuộc sống, hay nói khác hơn là nó đi sâu vào số phận, phẩm chất và bản chất con người. Nó khai thác đời tư và tâm hồn con người, đồng thời còn đề cập đến những vấn đề nhân bản có tính chất muôn thuở như khát vọng hạnh phúc hay cuộc đấu tranh giữa thiện và ác trong mỗi con người. Hiện thực đi vào trong thơ ca, để thơ ca lý giải nó, để thơ ca đặt ra những câu hỏi và đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi đó, từ đó đề xuất một hướng đi cho cuộc sống. Như vậy, hai câu thơ của Chế Lan Viên khẳng định rằng một bài thơ hoàn chỉnh chỉ ra đời dưới sự kết hợp của cảm xúc nhà thơ và hiện thực đời sống. Trái tim của nhà thơ và cuộc sống là hai thi liệu cần thiết cho công cuộc sáng tạo, và chính chúng sẽ cùng nhau tạo nên một tác phẩm lớn, một chỉnh thể thẩm mĩ có sức sống lâu bền.

Nhận định của Chế Lan Viên là hoàn toàn đúng đắn, cốt lõi của thơ không thể nào khác hơn ngoài cái tình của người nghệ sĩ và cái hiện thực cuộc sống. Trước nhất, ta không thể phủ nhận sự hiện hữu của cảm xúc như một thi liệu cần thiết trong quá trình sáng tác. Khi một người nghệ sĩ đặt tình cảm vào trong công việc anh ta làm thì rõ ràng những cảm xúc của anh sẽ cho anh cảm hứng sáng tạo. Mà hơn hết, cảm hứng sáng tạo đóng vai trò như một cầu nối giữa tư tưởng tác giả và hình tượng tác phẩm. Anh đang suy tư điều gì, trăn trở điều gì, cảm hứng sáng tạo sẽ giúp anh chuyển hóa tư tưởng vào tác phẩm của mình, vì cảm hứng luôn là linh hồn của hình tượng. Nhà văn Nam Cao từng nói: “ Sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện”. Vậy phải chăng nếu thơ không có cảm hứng, hay nói rộng hơn là thơ không có cảm xúc thì chỉ là một thứ thơ hời hợt, một thứ văn chương “đê tiện”? Chính vì thế, thơ luôn cần phải gắn liền với những rung động tinh tế của người nghệ sĩ để tư tưởng của anh được thể hiện rõ ràng trong mọi tác phẩm. Thêm vào đó, thơ cần cảm xúc để mỗi khi người đọc đọc tác phẩm, họ cảm thấy như đang soi bóng mình, họ bắt gặp mình, họ bắt gặp đồng loại của mình. Nhưng thơ như thế nào mới được nhân loại thừa nhận? Đó nhất định không thể là một thứ thơ vô hồn, nhạt thếch mà khi độc giả đọc nó họ không cảm nhận được thế nào là hỉ, nộ, ái, ố. Đối tượng phản ánh của văn học bao đời nay vẫn luôn là con người, như Nguyễn Văn Siêu tâm niệm rằng loại văn chương đáng thờ là loại “chuyên chú ở con ngươi”. Vậy nếu văn chương không “chuyên chú ở con người” thì văn chương sẽ là gì? Trái tim độc giả luôn là đích đến của người nghệ sĩ, nhưng trái tim độc giả chỉ đón nhận thơ của anh khi chính anh cũng viết thơ bằng trái tim mình. Thơ bắt buộc phải có cảm xúc, trước nhất là để độc giả có cảm xúc trong quá trình tiếp nhận. Nếu người nghệ sĩ viết về một nỗi đau nhưng chính anh lại chẳng đau trước cái nỗi đau ấy thì cớ chăng độc giả lại phải đau? Người đọc không có khả năng hân hoan hay buồn khổ trước những niềm vui, những cái u sầu nếu chính người nghệ sĩ không đưa cảm xúc riêng vào tác phẩm của anh. Chỉ khi thơ chứa đựng xúc cảm của người nghệ sĩ thì độc giả mới dễ dàng đồng điệu với nhà thơ, họ hiểu rằng anh đang lo âu điều gì, khát khao điều gì. Tố Hữu từng nói: "Thơ là chuyện đồng điệu", mà để người nghệ sĩ và độc giả có sự đồng điệu trong tâm hồn thì những rung động của người viết trong thơ không thể là thứ yếu. Và chính cái tình của người nghệ sĩ đồng thời là động lực thúc đẩy cái tài của anh. Với Raxul Gazatov thì: “Tài năng bắt nguồn từ những tình cảm mạnh mẽ nhất của con người”. Vì khi tình cảm bắt rễ trong tim anh, anh mới thực sự hiểu được chính mình, hiểu được các tác phẩm của anh đang hướng tới điều gì, từ đó anh biết cách sử dụng tài năng của mình. Cái tài của người nghệ sĩ là quan trọng, và cái tình của anh cũng quan trọng không kém. Nếu anh có tài nhưng trái tim anh lạnh buốt thì dù thơ anh có đẹp đến đâu, hoa mỹ đến đâu thì chúng vẫn cứ trống rỗng, vô hồn. Bởi thế, không thể phủ nhận rằng cái tình của người nghệ sĩ là cần thiết để cái tài của anh được tỏa sáng. Nguyễn Khải từng nói: “Tình cảm của người viết là khâu đầu tiên và khâu sau cùng trong quá trình xây dựng một tác phẩm như thế nào”. Tình cảm nhà thơ tham gia vào mọi công đoạn trong quá trình sáng tạo, chính vì thế nếu thiếu những rung động tinh tế ấy thì thơ sẽ không còn là thơ nữa.

Bên cạnh cảm xúc người viết, chất liệu từ cuộc sống cũng góp phần tạo nên thơ ca. Trước hết, cuộc đời là mảnh đất màu mỡ để gieo trồng hạt giống thi ca. Cuộc sống luôn cho thi nhân nguồn cảm hứng bất tận, như Andersen tâm niệm: “Không có câu chuyện cổ tích nào đẹp hơn câu chuyện do chính cuộc sống viết ra”. Bởi chính sự muôn vẻ của nó, hiện thực không khi nào là không đóng vai trò như một cái nôi nuôi dưỡng cảm hứng sáng tạo. Những câu chuyện cuộc sống bao giờ cũng là những câu chuyện đẹp nhất và chúng sẽ cho nhiều đề tài phong phú để thi nhân thỏa mình khai thác và sáng tác. Như Nguyễn Khuyến đã tinh tế thưởng thức cảnh mùa thu ở quê hương, và tái hiện lại nó vào “Thu điếu”:

      “Sóng biếc theo làn hơi gợn tí

        Lá vàng trước gió khé đưa vèo”

Chính Chế Lan Viên cũng thừa nhận rằng: “Những ngày tôi sống đây là những ngày đẹp hơn tất cả”. Một trong những lý do khiến nhà thơ cảm thấy cuộc sống quanh ông thật đẹp phải chăng vì nó cho ông vật liệu sáng tạo đặc sắc? Bên cạnh đó, người nghệ sĩ phản ánh hiện thực như một cách để anh tự làm giàu vốn sống và tài năng của mình. Người nghệ sĩ muốn viết về cuộc sống, tức là anh phải đi sâu vào nó để thực sự hiểu được nó. Và trong quá trình ấy anh thu nhập thêm nhiều kiến thức, đồng thời anh có cơ hội trải nghiệm, để vốn sống và tài năng của mình được trải qua “lửa thử vàng”, tức là trong quá trong quá trình tìm kiếm nguồn cảm hứng từ mảnh đất hiện thực, người nghệ sĩ đã tự làm nên trong mình một cuộc sống tràn đầy, nghĩa là anh đã hình thành tư tưởng và tình cảm, đủ để sáng tác nên những tác phẩm bất hủ. Thêm vào đó, khi chất liệu hiện thực góp mặt trong quá trình làm nên thành phẩm sáng tạo thì chính nó cũng hình thành và định hướng tư tưởng. Mà hơn hết, tư tưởng lại đóng vai trò như một yếu tố quyết định tầm vóc nhà thơ và tác phẩm của anh. Nguyễn Khải từng nói: “Giá trị của một tác phẩm trước hết là ở giá trị tư tưởng của nó”. Vậy làm cách nào để giá trị tư tưởng xuất hiện trong thơ? Thơ hình thành tư tưởng trong quá trình người nghệ sĩ đào sâu vào cuộc sống và đặt ra những câu hỏi mang tính nghệ thuật, mà tư tưởng của anh sẽ được định hướng đúng đắn khi anh tìm ra được câu trả lời cho những câu hỏi đó. Tư tưởng là một điều thiết yếu trong một thành phẩm sáng tạo, mà tư tưởng lại chỉ đến khi người nghệ sĩ tập trung khai thác cuộc sống, chính vì vậy thơ phải gắn liền với hiện thực. Ngoài ra thơ cần phản ánh cuộc sống vì chính nó cần bám sát hiện thực. Nếu ví thi ca như một con diều thì vật liệu hiện thực sẽ là sợi dây diều, nó sẽ là cái khuôn cho các tác phẩm văn học. Cảm hứng sáng tạo là điều cốt yếu trong quá trình sáng tác , nhưng hiện thực cuộc sống cũng là điều quan trọng không kém. Vì chính cái chất hiện thực sẽ định hình cảm hứng sáng tạo. Nếu một tác phẩm chỉ đơn thuần ra đời từ cảm hứng sáng tạo, nó nhất định sẽ là một tác phẩm viển vông, không đem đến bất kỳ một giá trị nào vì chính nó đã xa rời hiện thực. Một tác phẩm chỉ có thể là một “tác phẩm chung cho cả loài người” (Nam Cao) khi chính nó phải đề cập đến những vấn đề xung quanh con người. Puskin từng nhấn mạnh: “Nghệ thuật là sự mô phỏng tự nhiên”, như vậy thơ phản ánh hiện thực vì chính nó phải là. Mặt khác, Thạch Lam cho rằng: “Văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối, tàn ác”. Vậy nếu thơ cứ mãi xa rời thực tại thì làm sao thơ có thể tố cáo và thay đổi thực tại? Nếu thơ cứ mãi trốn tránh thế giới mà sống trong cõi riêng thì làm sao thơ có thể tạo ảnh hưởng lên thế giới? Thơ sẽ không thể hoàn thành nhiệm vụ của nó, đó là trở thành “một thứ khí giới thanh cao và đắc lực” nếu nó không chứa yếu tố hiện thực. Song song, thơ phải phản ánh được cuộc sống vì đó chính là nhiệm vụ vủa người nghệ sĩ. Người nghệ sĩ không thể đến đến cho người đọc “sự thoát li hay sự quên” (Thạch Lam) mà trái lại anh phải đưa vật liệu hiện thực vào thành phẩm sáng tạo, để người đọc có “bài học trông nhìn và thưởng thức” (Thạch Lam). Với Balzac thì: “Nhà văn phải là người thư ký trung thành của thời đại”, vì hơn bất kỳ ai hết, nhà văn phải nói lên được niềm hạnh phúc, nỗi khổ đau, cái cao thượng, sự hèn yếu xung quanh con người. Như vậy, nhà thơ phải sử dụng chất liệu lấy ở thực tại như chính anh phải làm. Nói như Tố Hữu: “Cuộc đời là nơi xuất bản cũng là nơi đi tới của văn học”, bởi thế không thể phủ nhận rằng cuộc sống cho người nghệ sĩ nguồn cảm hứng sáng tác, nhưng đồng thời cuộc sống còn là một trong những đối tượng phản ánh chính của thơ.

Thi sĩ Xuân Diệu khẳng định: “Thơ là hiện thực, thơ là cuộc đời”, thật vậy, cuộc sống xung quanh luôn tồn tại vô số đề tài để thi nhân khai thác. Và chính Xuân Diệu cũng cảm nhận được những biến thái tinh vi của cuộc sống, từ đó ông có cảm hứng để miêu tả vẻ đẹp cuộc sống thật rực rỡ trong “Vội vàng”:

      “Của ong bướm này đây tuàn tháng mật

        Này đây hoa của đồng nội xanh rì

        Này đây lá của cảnh tơ phơ phất

        Của yến anh này đây khúc tình si

        Và này đây ánh sáng chớp hàng mi”

Trong đoạn thơ, với sự kết hợp giữa điệp ngữ “này đây” và phép liệt kê, nhà thơ đã kể ra và nhấn mạnh vẻ đẹp của các chi tiết tồn tại trong cuộc sống xung quanh ông. Đồng thời, Xuân Diệu đã đắm mình vào cảnh sắc thiên nhiên, ông sử dụng mọi giác quan để tận hưởng trọn vẹn vẻ đẹp cuộc sống, từ ngắm nhìn ong, bướm, hoa, lá, ánh sáng cho đến lắng nghe tiếng yến anh líu lo. Mùa xuân trong “Vội vàng” của Xuân Diệu hiện lên mơn mởn xanh, tươi tắn và rạo rực nhưng đồng thời lại rất gần gũi, rất thật. Trong “thi nhân Việt Nam”, nhà phê bình văn học Hoài Thanh viết: “Xuân Diệu đốt cảnh Bồng Lai và xua ai nấy về hạ giới”, Xuân Diệu nhận ra rằng không có gì đẹp hơn những thứ xung quanh mình, vì thế thi nhân đã sử dụng chúng như một thi liệu trong quá trình sáng tác. Khi miêu tả vẻ đẹp thiên nhiên, Xuân Diệu đã cho chúng ta thấy rằng cuộc sống này đây đẹp đẽ như thế nào, và chính cái đẹp ấy sẽ là nguồn cảm hứng sáng tác bất tận. Chỉ có khi thơ đề cập đến yếu tố đời thực thì thơ mới vừa lãng mạn, thi vị, lại cũng rất chân thực.

Bạch Cư Dị cho rằng: “Tình cảm là cái gốc của văn chương”, đúng thế, thơ chỉ có thể bắt rễ từ một trái tim biết rung động, như thế, không thể phủ nhận rằng bên cạnh hiện thực, tình cảm đồng thời là một vật liệu cấu thành nên thành phẩm sáng tạo. Vì lẽ đó, tồn tại song song với bức tranh thiên nhiên trong “Vội vàng” là tâm trạng lo lắng, phấp phỏng trước một thời gian trôi chảy của nhà thơ:

      “Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua

        Xuân còn non nghĩa là xuân đã già

        Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất”

“Xuân” được nhấn mạnh bằng biện pháp điệp ngữ, nhưng “xuân” ở đây không còn là mùa xuân của thiên nhiên nữa mà xuân ở đây chỉ tuổi trẻ con người, cùng với điệp ngữ “nghĩa là” thể hiện sự lo lắng, cuống cuồng của thi nhân trước bước đi thời gian. Ở đoạn thơ còn là những sự đối lập mạnh mẽ: “xuân đương tới-xuân đương qua”, “xuân còn non-xuân đã già” làm hiện hữu lên sự vụt trôi của thời gian, của đời người, “xuân hết-tôi cũng mất”. Chính nhà thơ cũng bày tỏ qua đây sự nuối tiếc trước bước đi thời gian, “tôi cũng mất”, vì nhà thơ yêu đời, yêu cuộc sống nên cái chết làm Xuân Diệu trăn trở hơn hẳn. Ông sợ rằng ông sẽ mất trước khi cảm nhận được trọn vẹn vẻ đẹp cuộc sống. Và chính sự lo lắng này của Xuân Diệu đã tạo nên cảm xúc cho “Vội vàng”, để tác phẩm có hồn hơn, nói như Hoài Thanh: “Đó là một hồn thơ tha thiết, rạo rực, băn khoăn”. Như vậy, chính tâm trạng của Xuân Diệu đã làm nên một nửa của “Vội vàng”, một “Vội vàng” đầy thấp thỏm và chứa đựng nhiều tâm tư.

Tóm lại, cái tình của người viết và hiện thực cuộc sống là hai chất liệu quan trọng trong quá trình hình thành thành phẩm sáng tạo, vì thế nó đòi hỏi người nghệ sĩ phải linh hoạt trong việc kết hợp hai vật liệu. Cả hai vật liệu đều nắm phần nửa của một bài thơ, chính vì thế nếu thiếu dù chỉ một trong hai yếu tố thì thơ sẽ không còn hoàn chỉnh. Như Chế Lan Viên từng nói: “Đừng cậy thời đại anh hùng nếu tâm hồn anh cứ bé”, thật thế, trước một cuộc sống tràn đầy, nhà thơ bắt buộc phải mở lòng mình ra, để trái tim mình cảm nhận được mọi trạng thái của cuộc sống. Nếu trái tim anh trống rỗng thì thơ anh sẽ cứ vô hồn, nếu tâm hồn anh khép kín thì thơ anh cứ sẽ thẳng đơ. Bên cạnh đó, Bielinxki cho rằng: “Văn chương sẽ chết nếu nó miêu tả cuộc sống chỉ để miêu tả”, như thế nếu thơ chỉ đơn thuần nói về cuộc sống mà quên đi vật liệu xúc cảm thì đó cũng chỉ là thơ “chết”. Thơ không sao chép hiện thực như những công trình khoa học, điều làm thơ khác biệt hơn hẳn đó là khi nó chứa yếu tố cảm xúc. Với Nguyễn Đình Thi thì: “Tác phẩm lớn hấp dẫn người ta bởi cách nhìn nhận mới, tình cảm mới dành cho những điều, những việc mà ai cũng biết cả rồi”, vì thế nếu thơ chỉ biết là bản sao của cuộc sống, nó sẽ không có gì đặc sắc, mới mẻ, không thể “hấp dẫn người ta”. Nhìn chung, người nghệ sĩ phải biết kết hợp cả vật liệu từ trái tim mình và vật liệu từ hiện thực đời sống, phải biết “lượm lặt những hạt thơ trên luống đất của người dân cày, ấp ủ chúng nơi trái tim” (Pauxtopxki).

Chế Lan Viên có cái nhìn đúng đắn về quá trình sáng tác của người nghệ sĩ, đó là anh vừa phải đề cập đến tình cảm cá nhân vừa phải đề cập đến yếu tố đời thực trong tác phẩm của mình. Một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh chỉ có thể ra đời khi có đủ cả hai thi liệu trên, do đó đòi hỏi người nghệ sĩ phải có một trái tim nhạy cảm để biết rung động và một đôi mắt tinh tế để nhìn nhận được mọi biến thái tinh vi trong cuộc sống. Và đồng thời, độc giả phải cảm nhận tác phẩm bằng cả trái tim để thấy được cảm xúc của nhà thơ gửi gắm và vẻ đẹp cuộc sống mà anh miêu tả.

      “Anh chỉ mong câu thơ anh sống khỏi một đêm, có ích quá một ngày”

                                                                   (Chế Lan Viên, Thơ bình phương-Đời lập phương)

Người nghệ sĩ hoàn toàn có quyền tin rằng thơ anh sẽ góp mặt trong công trình thay đổi thế giới và thay đổi tâm hồn độc giả khi chính nó phản ánh hiện thực và chứa đựng cảm xúc của anh. Như vậy, hai câu thơ của Chế Lan Viên đã trở thành một kim chỉ nam cho nhà thơ trong quá trình sáng tác, đó là phải biết dung hòa cả hai thi liệu để tạo ra một tác phẩm đầy tính thi vị nhưng vẫn mang hơi thở thời đại.

Marcell Proust quan niệm: “Thế giới được tạo lập không phải một lần, mà mỗi lần người nghệ sMarcelĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập”. Còn Tô Hoài cho rằng: “Mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời”.

  Marcell Proust quan niệm: “Thế giới được tạo lập không phải một lần, mà mỗi lần người nghệ sMarcelĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế ...