Hiển thị các bài đăng có nhãn NGHỊ LUẬN VĂN HỌC. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NGHỊ LUẬN VĂN HỌC. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 10 tháng 10, 2019

5 NGUYÊN TẮC VÀNG ĐỂ VIẾT BÀI NGHỊ LUẬN RÕ RÀNG, THUYẾT PHỤC





Chúng ta vẫn quan niệm văn chương là phải trau chuốt, bay bổng. Nhưng bạn thử nghĩ xem, nếu đọc một bài văn ngôn từ hoa mỹ diễm lệ nhưng rốt cuộc bạn chẳng thể hiểu được người viết đang muốn trình bày điều gì, thì bạn còn muốn đọc tiếp không? Đúng vậy, mọi nỗ lực luyện câu sắp chữ chỉ là vô nghĩa nếu người đọc không nhận được thông điệp mà ta gửi gắm. Nếu thiếu đi sự rõ ràng, chặt chẽ thì mọi câu từ trau chuốt chắc khác gì một tòa nhà đồ sộ thiếu đi nền móng vững chắc, sẽ sụp đổ. Vậy làm thế nào để có được một bài văn nghị luận rõ ràng, thuyết phục?

Nguyên tắc 1: Hiểu thật rõ những gì mình viết

“Nếu bạn không thể giải thích cho đứa trẻ sáu tuổi hiểu được, thì chính bạn cũng không hiểu gì cả” – nhà bác học lừng lẫy thế giới Albert Einstein đã nói như vậy. Einstein rõ ràng không muốn chúng ta biến mọi đứa trẻ sáu tuổi thành bác học, mà ý ông nói rằng nếu ta thực sự nắm bản chất vấn đề, ta sẽ có được cách diễn giải rõ ràng và dễ hiểu.

Để thuyết phục người khác, bạn phải hiểu rõ ngọn ngành vấn đề mà mình trình bày. Để làm được điều này, bạn phải quản lý tri thức theo hai cấp độ: cấp độ tổng thể và cấp độ chi tiết.

Ở cấp độ tổng thể, bạn cần nắm vững sự tương quan giữa các đơn vị kiến thức liên quan đến vấn đề mà mình trình bày. Hai mối liên hệ bạn phải nắm: Mối liên hệ theo chiều dọc và mối liên hệ theo chiều ngang.

Mối liên hệ chiều dọc là mối liên hệ giữa các kiến thức được sắp xếp theo chiều hướng tăng tiến. Có thể đó là sự tăng tiến về thời gian, về độ khó, sự tăng tiến trong mối quan hệ nhân quả…

Mối liên hệ chiều  ngang là mối liên hệ giữa các kiến thức được sắp xếp đồng đẳng. Ví dụ như các tác phẩm văn học của cùng một tác giả, cùng một thể loại, cùng một trào lưu khuynh hướng…





1: Mối quan hệ chiều ngang, chiều dọc trong một vấn đề văn học sử



2 Mối quan hệ chiều ngang và chiều dọc của hệ thống chủ đề trong một tác phẩm

Trên cơ sở nắm được mối liên hệ giữa các đơn vị lý thuyết, bạn mới có thể dễ dàng vận dụng thao tác so sánh, phân tích để làm sáng tỏ vấn đề. Phân tầng tri thức theo nhiều cấp độ sẽ giúp bạn lựa chọn được điều gì cần phải nói, và chọn được cách nói dễ hiểu nhất đối với những đối tượng người đọc khác nhau. Hãy nhớ điều này: Chỉ biết thôi thì chưa phải là hiểu, nắm vững mối liên hệ mới thực sự là hiểu.

Ở cấp độ chi tiết, bạn cần phải nắm được những điểm quan trọng nhất, những điểm ấn tượng nhất trong vấn đề mà bạn đang trình bày. Một số câu hỏi có thể đặt ra:

- Chi tiết nào (trong tác phẩm văn học, trong dẫn chứng đời sống…) thể hiện rõ nét nhất, đầy đủ nhất vấn đề mà tôi đang trình bày?
- Đâu là điểm ấn tượng nhất với tôi?
-Điều gì tác động mạnh nhất vào cảm xúc của tôi?
-Điều gì đã tạo ra sự thay đổi lớn về nhận thức trong tôi?...

Những chi tiết này sẽ là điểm sáng trong bài viết, nó là căn cứ để bạn khơi sâu vấn đề mình đang trình bày và tạo sự thuyết phục trong bài viết.

Hãy tập thói quen sử dụng sơ đồ để hệ thống hóa lại những đơn vị kiến thức cần nắm. Đồng thời, khi tìm hiểu tri thức, nên có thói quen ghi chép lại những điểm ấn tượng nhất, quan trọng nhất, trọng tâm nhất.

Nguyên tắc 2: Quản lý bố cục bài viết

Bố cục của bài văn nghị luận bao giờ cũng là một hệ thống các ý được sắp xếp theo tầng bậc rõ ràng và có mối liên hệ chặt chẽ giữa các phần.


3-Bố cục các ý trong một bài văn nghị luận

Qua sơ đồ trên, ta thấy: Bài văn nghị luận không có nội dung thừa. Mọi lí lẽ, dẫn chứng đều nhằm mục đích làm sáng tỏ luận điểm. Mọi luận điểm đều nhằm mục đích làm sáng tỏ luận đề. Đây là điều bạn phải luôn luôn nhớ như in trong đầu mình khi triển khai vấn đề nghị luận. Hãy luôn tự hỏi mình: Tôi viết vấn đề này để làm gì? Những điều tôi đang viết phục vụ như thế nào đến việc làm sáng tỏ luận đề?

Sáng tỏ và thuyết phục – hai thần chú này luôn phải được niệm đi niệm lại.

Như vậy, tất cả các phần tạo ấn tượng cho bài viết chỉ thực sự có giá trị khi đặt trong tổng thể này. Trước bạn phải đặt những gì mình viết vào tổng thể bài viết và đảm bảo rằng nó thuyết phục, dễ hiểu. Sau đó mới sử dụng các tuyệt chiêu gây ấn tượng để chúng cuốn hút hơn.

Nguyên tắc 3: Bám sát luận đề

Trong bài văn nghị luận, luận đề chính là dòng sông lớn mà tất cả lí lẽ, dẫn chứng, cách hành văn đều là những dòng suối nhỏ đổ về đó. Mục đích cuối cùng là chảy ra biển lớn – tâm trí bạn đọc nhằm thuyết phục họ.

Như vậy, bạn có thể dễ dàng hình dung rằng: Tất cả mọi yếu tố trong bài văn nghị luận đều hướng về làm sáng tỏ luận đề. Như vậy, luận đề luôn cần phải được nhắc đi nhắc lại trong bài nghị luận của bạn.


4-Tất cả các yếu tố trong bài nghị luận đều hướng về luận đề

Mục đích cuối cùng của bài văn nghị luận là làm sáng tỏ luận đề, là nhằm mục đích thuyết phục người đọc về luận đề bạn đang trình bày. Như vậy, trong suốt bài viết của mình, bạn phải liên tục tự nhắc mình về luận đề, cũng là mục đích viết, và phải nhắc độc giả về luận đề, tức là mục đích họ đọc.

Bạn có thể nhắc lại luận đề trong bài văn nghị luận của mình bằng cách:

-Sử dụng từ khóa của luận đề. Với các đề văn nghị luận, luận đề thường được khái quát trong những từ khóa quan trọng của đề bài. Việc đặt câu sử dụng các từ khóa gắn với luận đề sẽ là dấu chỉ để bạn biết chắc rằng mình không lạc hướng.

-Sử dụng cấu trúc đoạn tổng phân hợp. Bạn mở đầu đoạn nghị luận bằng một câu chủ đề nhắc người đọc về luận đề sắp triển khai. Sau khi triển khai xong các lí lẽ, dẫn chứng, bạn quay trở lại chỉ rõ luận đề đã được làm sáng rõ như thế nào từ những điều mình vừa viết. Cách viết này sẽ giúp cho luận đề trở nên sáng rõ, giúp người đọc dễ theo dõi mạch lập luận của bạn.

Chú ý, việc nhắc lại vấn đề nghị luận không phải là cứ sao chép vô tội vạ từ khóa đề bài, cũng không phải cứ trích một cách máy móc nhận định trích trong đề bài. Quan trọng là phải chỉ ra được luận đề đã được triển khai như thế nào, được làm sáng tỏ như thế nào.

Nguyên tắc 4: Lập luận cần đủ tiền đề và kết luận

Tác giả Athony Weston, trong cuốn sách “A Rulebook for Argument” (Các thủ thuật để thành công trong tranh luận, bộ sách “Viết gì cũng đúng”, Alphabooks phát hành) đã đưa ra định nghĩa về tiền đề và kết luận như sau:

“Hãy nhớ rằng kết luận là lời phát biểu mà bạn phải đưa ra lý lẽ để chứng minh. Những lý lẽ mà bạn đưa ra dưới hình thức phát biểu gọi là tiền đề”

Hãy xem một số ví dụ sau:

Ví dụ 1: Sống hết mình cho hiện tại

Sống hết mình trong hiện tại, “cháy vèo trong gió” giúp bản thân mỗi người phát hiện và phát huy được năng lực tiềm ẩn, thỏa sức sáng tạo, cảm nhận được bao điều kì diệu trong cuộc sống. Con người với hoài bão, ý chí, không ngại khó khăn, sẵn sàng theo đuổi ước mơ của mình để đạt được thành công. Đặc biệt, những người sống hết khả năng luôn được mọi người yêu mến bởi họ đã gieo vào chúng ta ánh sáng hy vọng, tiếp thêm cho chúng ta động lực vững vàng để đối diện với nghịch cảnh trong đời. Chắc hẳn, mỗi chúng ta đã hơn một lần thán phục chàng trai Nick Vujicic – biểu tượng của sức sống mãnh liệt. Nick sinh ra không may mắn bị khuyết tứ chi, song không vì thế mà anh tuyệt vọng. Với lòng dũng cảm, tài năng, nghị lực phi thường, anh đã trở thành nhà diễn thuyết truyền động lực sống đến mọi người. Nick nói: “Tôi là một điều kì diệu. Bạn cũng là một điều kì diệu”. Điều kì diệu ấy có được chính là vì trong từng khoảnh khắc hiện tại anh đều tỏa sáng hết mình, dù cuộc đời còn nhiều đắng cay, đau khổ. (Trần Thị Thu Thảo).



Tiền đề
-Sống hết mình trong hiện tại giúp con người phát huy khả năng tiềm ẩn.
-Sống hết mình trong hiện tại giúp con người có nghị lực vượt qua khó khăn thử thách và vươn tới thành công (Dẫn chứng: Nick Vujicic).
Kết luận
Cần sống hết mình cho hiện tại

Ví dụ 2: Nếu thiếu đi thơ ca, tâm hồn người nghệ sĩ sẽ vô cùng trống vắng.

Mặt khác, sức mạnh kì diệu và quảng đại của thơ cả có thể vươn tới hoàn thành nhiệm vụ của những môn nghệ thuật khác. "Thơ là thơ, là nhạc, là họa, là chạm khắc...". Tính nhạc, họa, điêu khắc trong thơ không tồn tại dưới dạng vật chất nhưng luôn hiển hiện, đòi hỏi một khả năng cảm thụ tuyệt vời. Đến với thơ, người nghệ sĩ có cơ hội hòa quyện với niềm say mệ của toàn vẹn nghệ thuật, làm thơ mà như sáng tác nhạc, như điêu khắc, vẽ tranh. Điều kì diệu ấy nếu mất đi sẽ làm cho người nghệ sĩ trống vắng đến nhường nào?

 Nhà thơ Quang dũng là người nghệ sĩ đa tài. Ông làm thơ, vẽ tranh, sáng tác nhạc. Và tất cả tài hoa ấy hội tụ trong thơ ông:
"Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai pha luông mưa xa khơi"
(Tây Tiến)
Hai câu thơ miêu tả bức tranh dữ dội, hoang sơ mà nên thơ, lãng mạn của vùng núi Tây Bắc. Phép đối ở câu thơ thứ nhất như bẻ đôi nhịp thơ, đẩy hai về về hai hướng đối lập: Cao và sâu. Cao vời vợi, sâu thăm thẳm. Cái hay ở đây tác giả đã dùng cái cao để nói cái sâu, dùng cái sâu khôn cùng để tả cái cao vô tận. Đó là chất thơ của ngôn ngữ tạo hình giàu tính biểu cảm. Chất thơ ấy còn hòa quyện trong chất nhạc. Như Xuân Diệu từng nhận xét: "Đọc thơ Quang Dũng như ngậm nhạc trong miệng". Câu thơ "Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” với thanh bằng tuyệt đối đã hài hòa âm điệu, tiết tấu với câu thơ gân guốc, hiểm trở ở trên, tạo nên sự hòa quyện uyển chuyển, tưởng như đối nhau chan chát mà lại hòa hợp, gợi cảm, giàu sức hút. Người đọc như đang nghe một giai điệu thu hút giàu tiết tâu khi đang ngắm nhìn, tĩnh tâm nơi khoảng lặng của một bức tranh thủy rmặc nhòa đi trong màn mưa của cơn "mưa xa khơi". Hình ảnh những ngôi nhà xa xa nhòa đi trong màn mưa xa ngái, mờ ảo còn chất chứa nỗi niềm về quê hương, gia đình của những người lính Tây Tiến trên đường hành quân gian khổ. Ta bắt gặp một ánh nhìn bình yên...

Như vậy, nhờ thơ ca, nhà thơ Quang Dũng đã bộc lộ hết tài hoa và xúc cảm cũg như tâm sự sâu kín, nỗi nhớ cồn cào trong mình. Nếu không có thơ ca thì sao? Ông vẫn có thể vẽ, vẫn có thể sáng tác nhạc. Nhưng liệu những gam màu có thay thế được cái sâu khôn cùng ẩn chứa trong những con chữ mà sức diễn đạt là vô hạn? Và liệu những giai điệu kia vừa có thể giàu tính tạo hình lại vừa có thể trĩu nặng cảm xúc, như thơ? Với Quang Dũng nói riêng và các thi sĩ nói chung, thơ là không thể thay thế. Với tư cách là nhà sáng tạo mà khả năng sáng tạo luôn thôi thúc, luôn sôi sục, nếu thơ mất đi thì những thi sĩ sẽ rơi vào bế tắc,như một kẻ bị giam cầm trong ngục tối mà không thấy ánh sáng, như tâm hồn sống cuộc đời thực vật. Nỗi mất mát ấy chẳng phải cũng đau đớn như “mồ côi” sao?

Tiền đề
-Lí lẽ: Đến với thơ ca, người nghệ sĩ có khả năng hòa nhập tâm hồn mình với nhiều loại hình nghệ thuật khác, vậy không có thơ ca thì khoảng trống để lại là vô cùng.
-Dẫn chứng: Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến è Nếu không có thơ ca, Quang Dũng vẫn có thể vẽ tranh, sáng tác nhạc, nhưng những cung bậc cảm xúc đa dạng mà thơ ca truyền tải thì không  thể thay thế được.
Kết luận
Nếu thiếu đi thơ ca, tâm hồn người nghệ sĩ sẽ vô cùng trống vắng.

Như vậy, trong bất kì phần triển khai luận điểm nào trong bài nghị luận, hai yếu tố tiền đề và kết luận luôn phải gắn chặt với nhau. Người đọc sẽ ngay lập tức hỏi “Tại sao” khi bạn trình bày kết luận mà thiếu đi dẫn chứng. Và họ sẽ hỏi bạn: “Thì sao” nếu chỉ nêu tiền đề mà chẳng dẫn tới kết luận nào cả. Hãy tự hỏi mình như vậy: Tại sao tôi có thể nói điều này? Tôi nói những điều này rồi thì sao? Hai câu hỏi này sẽ giúp bạn kiểm tra xem lập luận của mình đã đủ tiền đề và kết luận hay chưa.

Nguyên tắc 5: Viết để thuyết phục người đọc, không phải để thỏa mãn cái tôi

Công bằng mà nói, chẳng ai có nghĩa vụ phải đọc hết những gì bạn viết ra. Người đọc luôn có quyền lựa chọn.  Thống kê chỉ ra rằng trên Facebook  người ta chỉ mất 4 s để quyết định xem có muốn đọc một bài viết hay không. Cuộc sống càng hối hả người ta càng vội vã, độ kiên nhẫn của người đọc giảm dần qua từng cái cuộn chuột trên bài viết của bạn. Vậy bạn nghĩ xem, ai muốn đọc một bài viết chỉ thao thao bất tuyệt về một cái tôi nào đó chẳng dính dáng đến mình?

Ngay từ định nghĩa, văn nghị luận đã không phải chỉ hướng về người viết. Nghị luận là thuyết phục ai đó về một quan điểm nào đó. Yếu tố người đọc được đặt ra từ trong định nghĩa. Bài viết của bạn chỉ có sự thuyết phục khi bạn hướng đến người đọc và trong đầu bạn luôn rõ ràng một mục đích tối thượng: Thuyết phục người đó.

Joe Vitale trong tác phẩm nổi tiếng “Thôi miên bằng ngôn từ” đã gợi ý một cách viết tuyệt vời để tạo sự thuyết phục. Ông khuyên các nhà viết quảng cáo hãy viết bài dưới dạng một lá thư, hình dung một người nhận cụ thể và viết thật chân thành để thuyết phục người đọc mua sản phẩm. Sau khi lá thư hoàn thành, biên tập thật cẩn thận, xóa đi các dấu  hiệu hình thức lá thư, biên tập lại thêm nhiều lần nữa, và ta có một bài viết hoàn hảo. Joe gọi đây là “bí quyết triệu đô”.

Đôi khi bạn không có đủ thời gian để làm tất cả các thao tác đó cho bài văn nghị luận của mình, nhưng bạn vẫn có thể rút ra bài học từ đó: Hãy hình dung về một người cụ thể trong quá trình viết. Và hãy viết để thuyết phục người đó. Thao tác này sẽ giúp cho quá trình viết của bạn có một định hướng rõ ràng hơn và các lập luận chặt chẽ hơn. Bạn sẽ không quên luận đề và mục đích làm sáng rõ luận đề. Khi đó, cảm xúc của bài viết cũng tự nhiên và chân thực hơn.

Ngoài ra, hãy thử tự hỏi mình xem bạn thích đọc một bài viết như thế nào, người đọc thích đọc một bài viết như thế nào? Sau đây là một số điều cần lưu ý:

-Hãy viết ngắn gọn và đi thẳng vào vấn đề. Cho dù đủ kiên nhẫn, thì người đọc cũng sẽ không thiện cảm với những bài viết quá dài dòng và chẳng nói được điều gì rõ ràng, cụ thể. Nếu phải đọc một bài như vậy, đó là cực hình.

-Nên trình bày theo kiểu diễn dịch hơn là kiểu quy nạp. Những thông tin chính phải đưa lên trước, những thông tin phụ đưa ra sau. Bởi đôi khi kết cấu quy nạp gây cảm giác khó chịu: Để hiểu điều bạn nói, người ta phải đọc một đống lí lẽ trong hoang mang, sau đó nhận ra ý chính ở cuối bài, lại phải lội ngược lên đọc lại. Rất khó chịu.

-Gây ấn tượng, tạo sự thu hút nhưng đừng phô diễn. Trong bài văn cần có những điểm sáng để thu hút sự chú ý của người đọc. Nhưng những câu văn xáo rỗng, những hình ảnh vô nghĩa, những câu chuyện chẳng liên quan thì không có giá trị gì trong bài viết của ta cả. Hãy cân nhắc về việc phô diễn trong bài viết: Đôi khi điều bạn thấy hay không phải là điều người đọc thích. Chẳng ai quan tâm bạn phải dụng công làm ra nó thế nào, khi họ thấy không hấp dẫn họ từ bỏ, đơn giản vậy thôi.

THẦY DUY 
(BLOG CHUYÊN VĂN)

TÓM TẮT BÀI VIẾT

5 NGUYÊN TẮC VÀNG ĐỂ BÀI NGHỊ LUẬN RÕ RÀNG, THUYẾT PHỤC


Nguyên tắc 1: Hiểu thật rõ vấn đề mình viết

Bạn cần quản lý hệ thống tri thức liên quan đến bài viết trên hai cấp độ:

+Ở cấp độ tổng thể: cần sơ đồ hóa hệ thống kiến thức để nắm bắt mối liên hệ theo chiều dọc và theo chiều ngang.
+Ở cấp độ chi tiết: cần ghi nhận những điểm ấn tượng, những chi tiết khái quát đầy đủ trọn vẹn vấn đề mà bạn đang bàn tới.

Nguyên tắc 2: Quản lý bố cục bài viết

Bài văn nghị luận không được có nội dung thừa. Bố cục bài viết phải được sắp xếp theo các tầng bậc có liên quan chặt chẽ với nhau. Bạn cần kiểm soát mối liên hệ giữa dẫn chứng, lí lẽ, luận điểm trong mối quan hệ với luận đề.

Nguyên tắc 3: Theo sát luận đề

Luận đề cần phải được nhắc đi nhắc lại trong bài viết và không bao giờ được quên nhiệm vụ chứng minh làm sáng tỏ luận đề.

Nguyên tắc 4: Lập luận phải đủ tiền đề và kết luận

Tiền đề là những cơ sở lí lẽ, dẫn chứng để làm rõ kết luận. Hai yếu tố này phải luôn gắn chặt với nhau thì lập luận mới chặt chẽ.

Nguyên tắc 5: Viết để thuyết phục người đọc, không phải để thỏa mãn cái tôi

Đừng viết những gì mình muốn, hãy viết những gì có thể thuyết phục người đọc.




LUYỆN TẬP:
BIÊN TẬP  MỘT BÀI VIẾT CHƯA THUYẾT PHỤC

Hãy thử biên tập lại một bài nghị luận chưa thuyết phục của chính mình qua các bước sau.

Bước 1: Đọc và phát hiện lỗi chưa đạt

Đọc kĩ lại bài viết và thử trả lời các câu hỏi:

1.Những kiến thức đưa vào bài viết đã đủ chưa? Có gì thừa và có gì thiếu? Có kiến thức nào chưa chính xác cần sửa lại hay không?

2.Bố cục bài viết đã chặt chẽ chưa? Các phần có liên quan với nhau chưa? Có phần nào bị thừa không? Với các phần thừa đó thì nên bỏ đi hay nên sửa lại để kết nối với bài viết? Nếu sửa thì sửa như thế nào? (Có thể vẽ sơ đồ để thấy rõ các điều này).

3. Luận đề (vấn đề nghị luận) có được thể hiện suốt bài viết hay không? (Kiểm tra ở những phần sau: Mở bài, giải thích, bàn luận – chứng minh, kết bài). Hệ thống câu luận điểm đã rõ chưa? Thao tác chốt ý đã đạt chưa?

4. Các lập luận đã đủ tiền đề và kết luận chưa?

5. Những phần nào có thể người đọc sẽ không quan tâm? Nên bỏ phần đó đi hay chỉnh sửa, nếu chỉnh sửa thì chỉnh như thế nào?

Bước 2: Viết lại bài viết cho đến khi tạo ra phiên bản tốt nhất.


Bước 3: Ghi lại những điều bạn nghĩ rằng bản thân cần phải nhớ cho bài viết lần sau.

[NLVH] CÂU THƠ HAY LÀ CÂU THƠ GIÀU SỨC GỢI (Bài viết số 2)

Đề: “Câu thơ hay là câu thơ giàu sức gợi” (Lưu Trọng Lư)


BÀI LÀM

Âm nhạc lấy giai điệu, âm thanh làm say đắm lòng người.
Kiến trúc lấy mảng màu, hình khối để tạo nên sự ấn tượng.

Thơ ca lại dùng ngôn từ để nói lên cảm xúc, bộc bạch nỗi lòng và gửi gắm những ước mơ, nguyện vọng. Thế nhưng, ngôn ngữ trong thơ lại có hạn, không cho phép người nghệ sĩ kể lể dài dòng hay phí phạm câu chữ mà họ phải mài giũa ngòi bút cho thật sắc, thật tinh để viết nên những ngôn ngữ cô đọng, hàm súc nhưng đa nghĩa, giàu tính biểu cảm và hình tượng. Phải chăng đó là quy luật khắc nghiệt của quá trình sáng tác thơ mà nếu không làm như thế, thơ ca sẽ trở nên nhạt nhòa và vô vị? Bàn về vấn đề này, Lưu Trọng Lư nói rằng: “Câu thơ hay là câu thơ giàu sức gợi”.

Làm thơ cũng như xây một ngôi nhà và ngôn ngữ chính là những viên gạch làm nên ngôi nhà ấy. Vây nên, nếu viên gạch xộc xệch, được nung cách cẩu thả thì ngôi nhà cũng không thể đứng vững được. Bởi thế, thơ muốn hay thì ngôn ngữ phải thật cô đọng, hàm súc, không sáo rỗng, để rồi khi bạn đọc tìm đến thi ca, họ sẽ được chiêm ngưỡng một thế giới đầy màu sắc, phong phú của ý nghĩa, hình ảnh, cảm xúc,… Ngôn ngữ thơ chính là cánh cổng đưa dẫn ta đến những chân trời yên ả, để từ đó ta có khoảng lặng mà hòa mình vào từng câu chữ, hiểu cặn kẽ từng khía cạnh của thơ ca, lúc ấy, thơ mới thật sự “giàu sức gợi”. Nhà thơ Lưu Trọng Lưu đã đưa ra nhận định hoàn toàn chính xác, đó cũng là quy luật của ngôn ngữ thơ ca: “Câu thơ hay là câu thơ giàu sức gợi”.

Lưu Trọng Lư cũng từng viết: “Thơ sở dĩ là thơ bởi vì nó súc tích, gọn gàng, lời ít mà ý nhiều”. Sáng tác thơ cũng như làm thí nghiệm hóa học, mỗi chữ viết ra không được thừa, cũng không được thiếu, khi ấy ta mới thu được hạt muối kết tinh của nghệ thuật. Hay nói như nhà thơ Nga Maiacopxki: “Quá trình sáng tạo ngôn ngữ thơ ca cũng giống như người lọc quặng radium, lọc lấy tinh chất, tìm ra trong những cái bộn bề của những tấn quặng từ đẹp, ánh sáng kim cương”. Ngôn ngữ là những tinh hoa quý giá nhất của một người làm thơ, đó là nơi họ nhắn nhủ những tâm tình,trao gửi bao ước mơ, hoài bão. Thế thì đó càng không thể là thứ câu chữ tầm thường, vặt vãnh được. Ngôn ngữ thơ phải như đóa hoa e ấp, đủ quyến rũ và cuốn hút để nhân loại tìm đến nó, cho đến khi gặp được rồi, đóa hoa ấy sẽ nở rộ với hương thơm làm say đắm lòng người. Độc giả tìm đến thi ca với tư thế là những nhà thám hiểm, họ càng đọc, càng đào sâu vào từng tầng nghĩa của ngôn ngữ sẽ càng gợi mở ra những giá trị nhân sinh sâu sắc. Đôi lúc chỉ cần một từ thật hay, thật sắc cũng đủ khiến tác phẩm neo đậu nơi tâm hồn bạn đọc, khiến họ tìm đến nó như một thế giới kì diệu để có thể thỏa sức khám phá. Tiếp nhận một bài thơ không phải ngày một ngày hai mà có thể hiểu hết được mọi ý nghĩa của nó, ta đọc rồi, phải đọc nữa, đọc mãi thì ta mới có thể nhận ra vẻ đẹp ẩn lấp sau lớp ngôn từ ấy. Vậy thử hỏi, nếu thơ ca không cô đọng, súc tích, mọi ý nghĩa đều phơi bày ra ngoài thì sẽ chán chường, nhạt nhẽo đến dường nào?

Thơ ca trung đại phương Đông là hình mẫu chuẩn mực cho sự cô đọng, hàm súc ấy. Mỗi câu thơ đều “giàu sức gợi” mà qua đó, ta nhìn thấy nhiều tầng nghĩa đan xen lẫn nhau, được khoác lên mình lớp ngôn từ thật tinh tế. Học giả Daisetz Suzuki cho rằng sức ám thị và tính hàm súc là bí quyết của thơ Haiku nói riêng cũng như của nghệ thuật Nhật Bản nói chung. Điều tối kỵ khi làm thơ haiku là thích lý luận dông dài, “khi tình cảm đã đạt đến mức độ cao nhất, ta lặng thinh, bởi lẽ không có ngôn ngữ nào có thể diễn tả thích đáng”. Bài thơ Haiku của thiền giả thi sĩ lỗi lạc Nhật Bản Matsuo Basho từng viết:

“Lệ trào nóng hổi
tan trên tóc mẹ
làn sương thu”

Bài thơ được Basho viết khi ông đang trên đường đi về tỉnh Kansai bỗng hay tin mẹ mất, cầm trên tay di vật của mẹ, ông đau đớn viết nên những dòng thơ trên. Nỗi đau xót hóa thành giọt nước mắt “nóng hổi” tuôn trào xuống bàn tay cầm mớ tóc bạc của người mẹ đã khuất. Nhà thơ có thể viết nên những dòng cảm xúc thật dài, thật thiết tha của nỗi đau mất mẹ, nhưng ở đây, Basho chỉ dùng vài câu thơ càng khiến nỗi đau ấy nén chặt lại để rồi tuôn ra thành giọt nước mắt đầy chua xót. Có lẽ nếu dừng lại ở đây cũng đã đủ cho bạn đọc hiểu về sự đau đớn của nhà thơ nhưng ông lại vẽ nên một hình ảnh tưởng chừng không liên quan đến cảm xúc của mình: “làn sương thu”. Vậy “làn sương thu” là gì? Phải chăng giọt lệ của Basho đã hóa thành làn sương mong manh, mờ ảo? Hay sau biến cố gia đình ấy, nhà thơ nhận ra rằng cuộc đời tựa như làn sương mỏng sao quá ngắn ngủi, vô thường? Basho không cần giải thích vì sao lại đặt hình ảnh “làn sương thu” ở cuối bài thơ, bởi lẽ, đến với thơ Haiku, người đọc luôn trong tâm thế sẵn sàng để nhìn nhận nó dưới nhiều góc độ khác nhau, mỗi góc độ đều gợi nên những suy tư, trăn trở sâu sắc. Bài thơ của Basho hiện lên thật mờ ảo và đa nghĩa, nó cũng giống như làn sương lơ lửng ở không trung, cho phép bạn đọc đào sâu để khám phá nhưng không thể hiểu được hết. Bài thơ ấy mới thật sự là nghệ thuật đích thực!

Nhà thơ Xuân Diệu từng khẳng định quy luật của quá trình tinh lọc ngôn ngữ thơ: “Thơ phải súc tích, phải rắc lại như một thứ thuốc nấu nhiều lần. Những sự vật thường vẫn nhạt vẫn loãng, thi sĩ đem kết đọng lại, tụ lại làm nên những câu thơ đậm đà, tài liệu thì vẫn lấy trong đời thường, trong cuộc sống hàng ngày, trong những sự rung động của trái tim, của xương thịt nhưng khi đã đem vào thơ thì tài liệu biến đi và thành ngọc châu”. Thật vậy, sáng tạo ngôn ngữ thơ không phải một điều dễ dàng. Người nghệ sĩ phải xoay sở trên một vùng đất chật hẹp, vậy nên họ không thể lãng phí bất cứ từ ngữ nào để diễn tả những cảm xúc hời hạt, tủn mủn, thứ mà họ viết nên phải là ngôn ngữ được chắt lọc và kết tinh từ hàng vạn chất liệu ở đời.

Nhà thơ Thâm Tâm viết “Tống biệt hành” vô cùng kiệm lời, kiệm chữ nhưng mỗi chữ được viết nên đều được chọn lọc kỹ càng, đều gợi ra vô vàn cảm xúc, suy tư. Khổ cuối của bài thơ là lời từ biệt của trượng sĩ ngày xưa:

"Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say”

Mỗi chữ "thà" coi như một nhát dao sắc, chặt đứt tình cảm để ra đi. Có người cho rằng người ra đi xem mẹ như chiếc lá bay, chị như là hạt bụi, em như hơi rượu say để tự an ủi bản thân mình, để mạnh mẽ dứt quyết ra đi. Một số khác nghĩ rằng như vậy có vẻ tàn nhẫn và vô tình quá, nên muốn hiểu cho "tình cảm hơn", đã giải thích thành: "Xin mẹ hãy coi con như chiếc lá bay, xin chị coi em như hạt bụi, xin em coi anh như hơi rượu say". Nhưng suy xét lại, người trượng phu đặt hình ảnh “em nhỏ ngây thơ” cạnh “hơi rượu say”, nhưng em còn nhỏ, làm sao biết hơi rượu say như thế nào mà cầu xin? Đến bây giờ, có lẽ ta vẫn không biết được cách hiểu nào mới là chính xác. Bởi không biết đâu là cách hiểu đúng nên bạn đọc phải đọc, phải nghiền ngẫm bài thơ kỹ càng hơn, rồi từ đó khám phá những lớp nghĩa rất đỗi sâu sắc, phong phú. Chính ngôn ngữ thơ đa nghĩa đã làm nên một cuộc tiễn đưa đầy kịch tính, kịch tính trong tình cảm, trong mâu thuẫn giằng xé giữa chí lớn, tình riêng. Nhà thơ Thâm Tâm không viết dài dòng, không khắc họa cuộc chia tay đầy nước mắt nhưng chính việc sử dụng những ngôn từ kết tinh ấy đã khiến nỗi đau càng thêm dồn nén, khắc khoải tựa âm vang của cảm xúc chẳng bao giờ kết thúc. Bài thơ chấm dứt trong âm điệu trầm buồn pha chút xót xa, nhưng chính âm điệu đó lại gợi mở ra những cách nhìn, những cách hiểu khác nhau, tạo nên một tác phẩm không chạm đáy.

Đến với thơ Hàn Mặc Tử, nếu chỉ dùng lí trí tỉnh táo và tư duy phản ánh luận để soi rọi thôi chữ đủ, ta phải để lòng mình hòa vào từng câu thơ, bóc tách từng lớp ngôn ngữ để hiểu được toàn diện tâm hồn thi sĩ. Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của thi sĩ họ Hàn đâu chỉ là bản tình ca xứ Huế, đâu chỉ là bức tranh Huế đẹp, Huế nên thơ, đó còn là cả một bầu trời hoài niệm và ký ức của tác giả:
“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên”

Có lẽ không ai có thể chối cãi được những hình ảnh ấy được gợi lên từ thôn Vĩ. Nhưng ngẫm nghĩ kỹ, tìm hiểu hoàn cảnh tác giả, ta sẽ tự hỏi rằng: những hình ảnh ấy từ đâu mà có? Do nhà thơ trực tiếp nhìn thấy chăng? Không thể, bởi khi viết bài thơ này, ông đang trong cảnh bệnh nặng, không thể về thôn Vĩ. Hay đó là hồi quang của kí ức? Tức Hàn hẳn đã từng đi đến thôn Vĩ. Trong cơn đau triền miên, trong nỗi choáng ngợp của cõi lòng u sầu, bi lụy, thần trí chìm mờ, những ảo ảnh của tiềm thức được thăng hoa, đó là biểu tượng của một tâm hồn khát khao cháy bỏng muốn hòa nhập với cuộc sống trong lành. Nắng là một mô-típ đầy ám ảnh trong thơ Hàn Mặc Tử: nắng tươi, nắng ửng, nắng chang,… vậy mà trong mảnh vườn này, hình ảnh nắng xuất hiện đầy êm dịu: “nắng hàng cau nắng mới lên”. Câu thơ hài hòa xuất hiện hai từ “nắng”, thứ ánh nắng trong trẻo ấy như lan tỏa khắp không gian, xuyên qua từng kẽ lá, khiến cảnh vật thôn Vĩ như bừng sáng. Cách ghép từ “nắng hàng cau” của thi sĩ đầy sức gợi tả. Đó là những tia nắng tinh khôi nhất còn len lỏi trong không trung qua những hàng cau thẳng tắp, rồi sắc cau lại cộng hưởng với sắc nắng vẽ nên bức tranh ban mai tươi tắn, gợi cảm. Chính sự điêu luyện của thi sĩ họ Hàn trong việc sử dụng ngôn ngữ đã tạo nên một bài thơ “giàu sức gợi”, cho phép bạn đọc tiếp nhận với nhiều cách hiểu khác nhau. Ngôn từ cô đọng nhưng đa nghĩa, hàm súc nhưng giàu giá trị biểu cảm đã khiến “Đây thôn Vĩ Dạ” sống mãi trong lòng độc giả!

Nhà thơ Nga Maiakôpxki quan niệm về quá trình tạo nên ngôn ngữ trong văn học như sau:
''Phải phí tốn ngàn câu quặng chữ
Mới thu về một chữ mà thôi
Nhưng chữ ấy làm cho rung động
Triệu trái tim trong triệu năm dài''

Để làm được điều đó, bên cạnh tâm hồn giàu xúc cảm, người nghệ sĩ cần phải có tài năng, sự điêu luyện trong việc sử dụng ngôn từ. Phải mài giũa ngòi bút thật sắc, phải làm cho những con chữ viết ra cô đọng đến tuyệt đối, phải khiến những ngôn từ ấy không năm im lìm trên trang giấy mà sống động, chứa chan cảm xúc. Nhà thơ ơi, đừng để những thứ anh viết ra trở nên vô nghĩa, hãy đặt để tâm tình anh trong mỗi con chữ, để khi bạn đọc mở ra, họ tìm được một tâm hồn đồng điệu. Còn về phía độc giả, xin đừng là người đọc thụ động, anh phải hòa mình vào tác phẩm, đừng bao giờ nghĩ bài thơ ấy đã kết thúc vì mỗi cách nhìn nhận khác nhau sẽ làm nên sức sống cho chúng.

Thơ ca muôn đời là thế, nó chỉ là nghệ thuật đích thực khi gợi mở cho bạn đọc nhiều giá trị sâu sắc, chỉ “hay” khi là “câu thơ giàu sức gợi”! Đó là lí do từ cổ chí kim, nhân loại vẫn mãi yêu mến thơ ca.

HUỲNH NGUYỄN BẢO TRÂN
LỚP 12 CHUYÊN VĂN TRƯỜNG THTH NĂM HỌC 2015-2018

[NLVH] MỘT CÂU THƠ HAY LÀ CÂU THƠ GIÀU SỨC GỢI (Bài viết số 1)

Đề: Câu thơ hay là câu thơ giàu sức gợi (Lưu Trọng Lư)





BÀI LÀM
Tự buổi đầu xuất hiện, văn chương đã là cầu nối từ tâm hồn tác giả đến trái tim bạn đọc, làm nên “sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại”, đặc biệt trong đó phải nói đến thơ ca. Bởi, dung lượng của một bài thơ thường không lớn và dàn trải như truyện ngắn, tiểu thuyết hay kịch,… nên buộc lòng người sáng tác phải cân, đo, đong, đếm kĩ càng từng con chữ, phải mài giũa ngòi bút cho thật sắc, thật tinh để viết nên những ngôn ngữ cô đọng, hàm súc nhưng đa nghĩa, giàu tính biểu cảm và hình tượng. Nhược bằng không, vần thơ ta viết nên sẽ mất đi cái chất “thơ” đặc trưng rồi trở nên nhạt nhòa, vô vị. Bàn về vấn đề này, Lưu Trọng Lư đã khẳng định : “Câu thơ hay là câu thơ giàu sức gợi”

Thơ là tiếng nói của cảm xúc, của tình cảm. Mà tình cảm, cảm xúc của con người thì nhiều cung bậc phức tạp, phong phú, nhiều góc khuất sâu kín không phải lúc nào cũng cần và cũng có thể  thổ  lộ  ra bằng lời. Cho nên thơ cần những khoảng lặng,cần sự cô đọng, hàm súc để truyền tải những cung bậc cảm xúc ấy.Đặc trưng ngôn từ  của thơ là sự  ngắn gọn. Dung lượng ngắn nhưng thơ lại đòi hỏi truyền tải  cảm xúc mãnh liệt, sâu sắc, nhiều cung bậc biến động tinh vi, phức tạp. Tất yếu thơ cần có sức gợi, cần một “ chiều không gian thứ tư” để truyền tải, chưa đựng cảm xúc ấy.Nhà thơ Lưu Trọng Lư đã đưa ra nhận định hoàn toàn chính xác, đó cũng là quy luật của ngôn ngữ thơ ca: “Câu thơ hay là câu thơ giàu sức gợi”.

     Nhà thơ Lưu Trọng Lư cũng đã từng viết: “Thơ sở dĩ là thơ bởi vì nó súc tích, gọn gàng, lời ít mà ý nhiều”. Sáng tác thơ cũng như “đong từng ngao” (Chế Lan Viên), mỗi chữ viết ra không được thừa, cũng không được thiếu, khi ấy ta mới thu được hạt muối kết tinh của nghệ thuật “lắng ở ô nề” và “đọng ở bề sâu”. Hay nói như nhà thơ Nga Maiacopxki: “Quá trình sáng tạo ngôn ngữ thơ ca cũng giống như người lọc quặng radium, lọc lấy tinh chất, tìm ra trong những cái bộn bề của những tấn quặng từ đẹp, ánh sáng kim cương”. Ngôn từ là tinh hoa quý giá nhất của một người làm thơ. Làm sao có thể truyền tải hết tâm tư này, trăn trở này bằng thứ ngôn từ cẩu thả, hời hợt hay vô vị, tầm thường ? Ngôn ngữ thơ phải như đóa hoa. Ban đầu khi vừa đến tay người đọc, đóa hoa ngôn từ mang vẻ đẹp e ấp, dịu dàng. Nhưng khi đã được người đọc tiếp nhận và ngẫm nghĩ, đóa hoa ấy sẽ nở rộ và khoe sắc, trở nên nồng nàn, quyến rũ hơn bao giờ hết. Và cái nồng nàn, quyến rũ kia chủ yếu xuất phát từ sự cô đọng và sức gợi của thơ. Nhờ  sự cô đọng, hàm súc, thi nhân có thể thông qua con chữ truyền tải những  điều ý nhị, sâu kín của cảm xúc, dễ đi vào lòng người, gây được ấn tượng khó phai trong lòng bạn đọc.Sự cô đọng hàm súc như một một khoảng trắng trong bức tranh thủy mặc để ngừoi đọc tịnh tâm lại, chiêm nghiệm về tư tưởng, tình cảm mà nhà thơ gửi gắm. Không những vậy, sức gợi còn làm nên sức hấp dẫn, thu hút của bài thơ. Bởi nhờ đó, mỗi bài thơ là một hành trình khám phá trái tim của những trái tim đồng điệu. Sức hấp dẫn của thơ không phải là những điều đã nói, mà là  ở  những điều chưa biết, cần phải kiếm tìm. Nhờ  khoảng lặng mà người đọc và nhà thơ gần gũi hơn, đồng cảm hơn, như Tố Hữu từng nhận xét : “Thơ, là cái đó: sự im lặng giữa các từ. Nếu người ta lắng nghe cái im lặng đó, thì có nhữung tiếng dội rất đa dạng và tinh tế.”

     Trong truyền thống văn chương Nhật Bản, thơ haiku nắm giữ một vị trí rất quan trọng. Nó là một viên ngọc kết tinh tâm hồn quý giá của người Nhật suốt bao thế hệ. Thơ haiku dung hợp và kết tinh nhiều giá trị văn hóa tinh thần của người Nhật nói riêng và người phương Đông nói chung. Chính vì thế mà thơ haiku mang hơi thở của Thiền tông, in đậm dấu ấn của thế giới u huyền, thoát tục, đồng thời chứa đựng trong mình bức tranh thiên nhiên rộng lớn với những âm thanh màu sắc đặc trưng cho bốn mùa, được thể hiện dưới một hình thức ngắn gọn, cô đọng. Chính đặc điểm cô đọng, hàm súc này đã tạo nên sức gợi độc đáo và dấu ấn riêng biệt cho những bài thơ thuộc thể loại này. Ta có thể thấy điều đó được thể hiện rõ nét qua các bài thơ của Basho, điển hình như bài được viết khi tác giả rời Ê-đô trở về quê cũ sau mười năm sinh sống, lao động và học tập:
“Đất khách mười mùa sương
Về thăm quê ngoảnh lại
Ê-đô là cố hương”
Vẫn là tứ thơ trong bài Độ Tang Càn của Giả Đảo nhưng bài thơ của Basho hàm súc hơn. Hai dòng đầu đề cập đến hoàn cảnh nảy sinh cảm xúc, hình ảnh nhân vật trữ tình hiện lên rất rõ : bước đi và ngoảnh lại. Về thăm quê sau nhiều năm xa cách, ai cũng đầy tâm trạng. Nhưng thông thường, người ta chỉ hướng đến nơi sẽ đến, nhất là nơi ấy lại là quê hương sau bao ngày xa cách. Nhân vật trữ tình ở đây cũng vậy. Niềm mong ước được trở về quê hương đã thể hiện ở dòng thơ đầu tiên. Khi cất bước thăm quê, Ê-đô vẫn là đất khách. Trên đất khách nên nhớ và khao khát về thăm quê. Nhưng khi đã cất bước ra đi thì lại "ngoảnh lại". Và "đất khách" thành "cố hương". Ê-đô lại trở thành quê hương, lại gắn bó máu thịt với người ra đi.  Bài thơ đã thể hiện tấm lòng tha thiết với quê hương, đất nước của nhà thơ. Đồng thời nó cũng đã ghi lại được phút giây rất đỗi thiêng liêng trong mỗi con người. Người ta chỉ có thể nhận ra sự quý giá của một cái gì đó khi đã sắp mất đi. Con người chỉ thấy mình gắn bó với mảnh đất ấy khi mình phải cất bước ra đi, phải rời xa nó. Với thể loại haiku, Basho đã thể hiện thành công và chính xác một trong rất nhiều những trạng thái tình cảm của con người. Từ "đất khách" mở đầu, từ "cố hương" kết thúc, vẫn chỉ một đối tượng, đã diễn tả và ghi lại được phút giây bừng ngộ chân lí của nhân vật trữ tình. Đến đây, tôi chợt nhớ đến mấy vần thơ đầy cảm xúc của Chế Lan Viên trong “Tiếng hát con tàu” cũng nói về tình cảm gắn bó với một vùng đất, gắn bó mãi rồi cũng từ lạ thành quen, thậm chí được xem như quê hương thứ hai của chính mình:

“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn
[…]
Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”

Có người từng nhận xét: "Cảm thức thẩm mĩ của haiku, nhất là haiku của Basho có những nét rất riêng, rất cao và tinh tế… Haiku chỉ gợi chứ không tả". Cũng chỉ “gợi” mà không “tả”, nhưng tác giả đã mang lại một cảm giác lạnh giá trong cơn mưa phùn của mùa đông Nhật Bản, từ đó thể hiện được tấm lòng sâu sắc, nhân hậu của chính ông dành cho con người thông qua hình tượng chú khỉ con giữa trời mưa buốt lạnh :
“Mưa đông giăng đầy trời
Chú khỉ con thầm ước
Có một chiếc áo tơi”
Ở đây, “chú khỉ con” có thể được xem là hình ảnh đại diện cho những người nông dân Nhật phải ra đồng giữa mưa đông gió rét, hoặc cũng có thể là đại diện cho đứa trẻ đang co ro, tím tái trong cái lạnh khắc nghiệt. Bài thơ đã khái quát hoá một vấn đề rất lớn và rất phổ biến của nhân sinh, đó là khao khát, là ước mơ. Miêu tả không chi tiết, từ ngữ không cầu kì, trau chuốt, nhưng “chú khỉ con” được nhân hóa đã nói lên ước mơ rất chính đáng của con người về cuộc sống đủ đầy, ấm no hơn, đồng thời cũng thể hiện sự thương cảm, xót xa của thi nhân trước số phận con người đói kém trong mùa đông u tịch lạnh giá. Đó mới thực là sức gợi phi thường của thơ haiku.

     Nhưng nếu nói về sức gợi trong thơ thì chỉ haiku thôi là chưa đủ. Bởi vẫn còn rất nhiều bài thơ khác mang vẻ đẹp “ý tại ngôn ngoại”, cô đọng và hàm súc nhưng vẫn đủ làm rung động trái tim bạn đọc nhiều thế hệ. “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử là một tác phẩm như thế. Có thể nói, với sáng tạo ngôn từ nghệ thuật mới mẻ và đặc sắc, xây dựng thành công nhiều tầng nghĩa qua các hình tượng khác nhau, thi sĩ họ Hàn đã làm nên một tuyệt tác cho làng thơ nước nhà, xứng đáng là ngôi sao sáng của bầu trời Thơ mới.
"Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?”
Khổ thơ thứ nhất nói về cảnh vật thôn Vĩ khi "nắng mai lên"... Ở khổ thơ thứ hai, Hàn Mặc Tử nhớ đến một miền sông nước mênh mang, bao la, một không gian nghệ thuật nhiều thương nhớ và lưu luyến. Có gió, nhưng “ gió theo lối gió". Cũng có mây, nhưng "mây đường mây". Mây gió đôi đường, đôi ngả:
"Gió theo lối ,gió/mây đường mây".
Cách ngắt nhịp 4/3, với hai vế tiểu đối, gợi tả một không gian gió, mây chia xa, như một nghịch cảnh đầy ám ảnh. Chữ "gió" và "mây" được điệp lại hai lần trong mỗi vế tiểu đối đã gợi lên một bầu trời thoáng đãng, mênh mông. Thi nhân đã và đang sống trong cảnh ngộ chia li và xa cách nên mới cảm thấy gió mây đôi ngả đôi đường như tình và lòng người bấy nay. Ngoại cảnh gió mây chính là tâm cảnh Hàn Mặc Tử. Không có một bóng người xuất hiện trước cảnh gió mây ấy. Mà chỉ có "Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay". Cảnh vật mang theo bao nỗi niềm. Sông Hương lững lờ trôi xuôi êm đềm, trong tâm tưởng thi nhân đã hoá thành "dòng nước buồn thiu", càng thêm mơ hồ, xa vắng. "Buồn thiu" là buồn héo hon cả gan ruột, một nổi buồn day dứt triền miên, cứ thấm sâu mãi vào hồn người. Hai tiếng “buồn thiu” là cách nói của bà con xứ Huế. Bờ bãi đôi bờ sông cũng vắng vẻ, chỉ nhìn thấy "hoa bắp lay". Chữ “ lay" gợi tả hoa bắp đung đưa trong làn gió. Hoa bắp, hoa bình dị của đồng nội cũng mang tình người và hồn người. Hai câu thơ thất ngôn với bốn thi liệu (gió, mây, dòng nước, hoa bắp) đã hội tụ hồn vía cảnh sắc thôn Vĩ. Hình như đó là cảnh chiều hôm? Hàn Mặc Tử tả ít mà gợi nhiều, tượng trưng mà ấn tượng. Ngoại cảnh thì chia lìa, buồn lặng lẽ biểu hiện một tâm cảnh: thấm thía nỗi buồn xa vắng, cô đơn.
     Hai câu thơ tiếp theo gợi nhớ một cảnh sắc thơ mộng, cảnh đêm trăng trên Hương Giang ngày nào. "Dòng nước buồn thiu" đã biến hoá kì diệu thành "sông trăng" thơ mộng:
"Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?".
Đây là hai câu thơ tuyệt bút của Hàn Mặc Tử được nhiều người ngợi ca, kết tinh rực rỡ bút pháp nghệ thuật tài hoa lãng mạn. Một vần lưng tài tình. Chữ "đó" cuối câu 3 bắt vần với chữ "có" đầu câu 4, âm điệu vần thơ cất lên như một tiếng khẽ hỏi thầm "có chở trăng về kịp tối nay?". "Thuyền ai" phiếm chỉ gợi lên bao ngỡ ngàng bâng khuâng, tưởng như quen mà lạ, gần đó mà xa xôi. Con thuyền mồ côi nằm trên bến đợi "sông trăng" là một nét vẽ thơ mộng và độc đáo. Cả hai câu thơ của Hàn Mặc Tử, câu thơ nào cũng có trăng. Ánh trăng tỏa sáng dòng sông, con thuyền và bến đò. Con thuyền không chở người (vì người xa cách chia li) mà chỉ "chở trăng về". Phải "về kịp tối nay" vì đã cách xa và mong đợi sau nhiều năm tháng. Con thuyền tình của ước vọng nhưng đã thành vô vọng.  Bến sông trăng trở nên vắng lặng vì "thuyền ai" chỉ là con thuyền mồ côi.

     Sau cảnh gió, mây, là con thuyền, bến đợi và sông trăng, cảnh đẹp một cách mộng ảo. Cả ba hình ảnh ấy đều biểu hiện một nỗi niềm, một tâm trạng cô đơn, thương nhớ đôi với cảnh và người nơi thôn Vĩ. Như ta đã biết, thời trai trẻ, Hàn Mặc Tử đã từng học ở Huế từng có một mối tình đơn phương với một thiếu nữ thôn Vĩ, mang tên một loài hoa. Với chàng thi sĩ tài hoa, đa tình và bất hạnh, đang sống ưong cô đơn và bệnh tật, nhớ Vĩ Dạ là nhớ cảnh cũ người xưa. Cảnh "gió theo lối gió, mây đường mây", cảnh "thuyền ai đậu bến sông trăng đó" là cảnh đẹp mà buồn. Buồn vì chia lìa, xa vắng, lẻ loi và vô vọng. Khổ thơ trên đây, mỗi câu, mỗi chữ, mỗi vần thơ đều thấm đẫm tình thương nhớ và một nỗi "buồn thiu" lẻ loi, vần thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc. Thơ Hàn Mặc Tử, đúng là thơ trữ tình hướng nội "tình trong cảnh ấy, cảnh trong tình này". Có thể thấy, Hàn Mặc Tử đã làm chủ “cuộc chơi ngôn từ” một cách rất rõ ràng khi xây dựng được hệ thống ngôn từ cô đọng, khúc chiết nhưng vẫn rất gợi hình, gợi cảm, mở ra nhiều tầng nghĩa mới trong khâu tiếp nhận văn học của độc giả, từ đó làm nên sức sống mãnh liệt cho “Đây thôn Vĩ Dạ”

     Tô Đông Pha có nói : “Ý hết mà lời dừng, ấy là cái lời rất mực trong thiên hạ. Song, lời dừng mà ý không tả hết được, lại càng tuyệt” (Lê Quý Đôn dịch). “Một câu thơ hay là một câu thơ có sức gợi”, bởi từ đó  có thể  gợi ra trong tâm trí người đọc vô  vàn màu sắc, hình ảnh, âm thanh và hình tượng mang những chiều sâu chưa nói hết, thôi thúc họ phải tìm hiểu, ngẫm nghĩ, hòa mình vào con chữ để thấm nhuần ý tứ và cảm thụ trọn vẹn giá trị ngôn từ trong tác phẩm. Bài học rút ra cho các nhà thơ của hôm nay và mai sau là phải mài giũa ngòi bút của mình sao cho thật sắc bén để viết nên những vần thơ không cần hoa mĩ nhưng đủ hàm súc và sức gợi để làm nên sức ảnh hưởng mạnh mẽ của văn chương đối với tâm hồn bạn đọc. Ấy mới thật là vần thơ trác tuyệt.
Nhà thơ Nga Maiacopxki đã nói:
“Phải phí tốn nghìn cân quặng chữ
Mới thu về một chữ mà thôi
Những chữ ấy làm cho rung động
Triệu trái tim trong triệu năm dài”
Chính những chữ được thu về sau bao dụng công sang tạo của nhà thơ sẽ khiến “triệu trái tim trong triệu năm dài” phải ngân lên khúc ca của sự đồng điệu, hòa quyện nơi tâm hồn. Đó là lí do mà từ buổi bình minh của văn chương đến nay, thơ vẫn là tri kỉ lớn nhất của trái tim nhân loại.

NGUYỄN HỒNG ANH
– LỚP 12 CHUYÊN VĂN TRƯỜNG THTH ĐHSH, NIÊN KHÓA 2015-2018

Marcell Proust quan niệm: “Thế giới được tạo lập không phải một lần, mà mỗi lần người nghệ sMarcelĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập”. Còn Tô Hoài cho rằng: “Mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời”.

  Marcell Proust quan niệm: “Thế giới được tạo lập không phải một lần, mà mỗi lần người nghệ sMarcelĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế ...