Thứ Năm, 25 tháng 6, 2026

Marcell Proust quan niệm: “Thế giới được tạo lập không phải một lần, mà mỗi lần người nghệ sMarcelĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập”. Còn Tô Hoài cho rằng: “Mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời”.

 

Marcell Proust quan niệm: “Thế giới được tạo lập không phải một lần, mà mỗi lần người nghệ sMarcelĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập”. Còn Tô Hoài cho  rằng: “Mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời”. 
Bằng hiểu biết của anh/ chị về văn học, hãy bình luận hai ý kiến trên
BÀI LÀM THAM KHẢO
          “Mỗi một con người, trong nội tâm chỉ là một nhà thơ, chỉ khi nào người cuối cùng chết đi, thì mới là mất đi nhà thơ cuối cùng” (Si-mon Phrớt). Mỗi người nghệ sĩ là một thế giới riêng biệt, bí ẩn và đầỵ khám phá. Mỗi tác phẩm nghệ thuật ra đời là sản phẩm của những quá trình chung đúc khác nhau mà ở đó người nghệ sĩ là chủ thể sáng tạo. Bàn về vai trò của người nghệ sĩ trong quá trình sáng tạo, Mác-xen Prút từng nói: “Thế giới được tạo lập không phải một lần, mà mỗi lần người nghệ sĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập”. Còn Tô Hoài cho rằng: “Mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời”.
Nhận định của hai tác giả trên dù được trình bàỵ bằng hai cách diễn đạt khác nhau nhưng đều đề cao vai trò của người nghệ sĩ trong quá trình sáng tạo nghệ thuật. Hiện thực đời sống được phản ánh trong văn chương ở nhiều chiều, nhiều phương diện khác nhau. Mỗi nghệ sĩ nhìn nhận hiện thực và xây dựng trong tác phẩm của mình những địa hạt riêng biệt và độc đáo. Điều nàỵ phụ thuộc vào cách nhìn, vào quan điểm, vào tư tưởng, vào nhân sinh quan của người nghệ sĩ. Người nghệ sĩ đến với cuộc đời, mang lại cho văn chương một phần: Mặt riêng với những sáng tạo riêng của mình là khi ấy một lần thế giới được tạo lập. Bởi văn học là nghệ thuật ngôn từ phản ánh thế giới bằng hình tượng nghệ thuật. Con người không chỉ là tâm điểm của cuộc sống mà còn là đối tượng phản ánh trung tâm của văn học, mỗi giai đoạn được khám phá ở những bình diện khác nhau, trong những mối quan hệ khác nhau. “Cuộc sống và văn học là một đường tròn đồng tâm mà tâm điểm chính là con người” (Nguyễn Minh Châu). Chính vì thế mà con người là đối tượng trung tâm của văn học.
Thế giới được tạo lập không phải một lần“, mà mỗi lần người nghệ sĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập”. Cảm quan của người nghệ sĩ; đôi mắt của người nghệ sĩ, tài năng của người nghệ sĩ đã tạo lập trong tác phẩm của mình một thế giới quan khác nhau. “Thế giới được tạo lập không phải một lần“. Hiện thực cuộc sống ở tác phẩm này không bao giờ là hiện thực cuộc sống ở tác phẩm khác. Hai tác giả sẽ có hai cách tái hiện cuộc sống khác nhau. Văn chương chân chính không có những lối mòn và người nghệ sĩ chân chính không bao giờ đi theo con đường của người khác. “Nghệ thuật là tự khơi lấy một dòng sông” (chữ dùng của Nam Cao). Bản chất của nghệ thuật là sự sáng tạo. Bởi vậỵ, “mỗi lần người nghệ sĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập”. Mỗi người nghệ sĩ là thế giới khác nhau và không thể thay thế nhà văn này bằng một nhà văn khác, nhà thơ này bằng một nhà thơ khác. Qua các tác phẩm, bức tranh hiện thực xã hội không chỉ được tái tạo mà còn được phản ánh sinh động, thể hiện tư tưởng, tình cảm; tài năng của người nghệ sĩ. Cái “độc đáo” của người nghệ sĩ là sự sáng tạo, là sự riêng biệt trong cách khám phá hiện thực và đưa hiện thực vào trang viết. Người nghệ sĩ “độc đáo” là người nghệ sĩ có tài năng lớn. “Thế giới được tạo lập” chính là kết quả sự sáng tạo của người nghệ sĩ. Người nghệ sĩ càng lớn thì “thế giới được tạo lập” trong tác phẩm của họ càng trở nên sâu sắc và thực sự trở thành bước ngoặt vĩ đại. Như tác phẩm của Ăng-ghen về bộ tiểu thuyết Tấn trò đời của Banzắc: Qụa ánh sáng của Banzắc, tôi hiểu được xã hội Pháp nhiều hơn qua tác phẩm của các sử gia, các nhà kinh tế, chính trị; các nhà thống kê thời bấy giờ gộp lại. Văn học là một cuốn bách khoa toàn thư về cuộc sống mà mỗi chương của nó là một tác phẩm nghệ thuật thực sự, không có chương nào giống chương nào. Cùng viết về đề tài người nông dân, trong Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan viết về sự đói nghèo, sự bần cùng; trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố đi sâu vào nỗi khốn cùng vì nạn sưu cao thuế nặng thì Chí Phèo của Nam Cao lại khám phá hiện thực ở bi kịch con người bị cự tuyệt quyền làm người, phải tìm tới cái chết để đòi sự sống. Người ta cũng nhận ra sự khác nhau của chế độ phong kiến hà khắc, giữa làng Mùi trong A.Q chính truyện của Lỗ Tấn với làng Vũ Đại trong tác phẩm của Nam Cao. Đó là sự khác nhau trong quá trình đày đọa con người. Qua cách khám phá hiện thực, người ta nhận ra tư tưởng của nhà văn, nhận ra phong cách riêng biệt, độc đáo của người nghệ sĩ. Càng nhiều sự độc đáo thì nền văn học càng trở nên đa dạng. Văn học thế giới vẫn ca tụng một tình ỵêu bất tử giữa chàng Rô-mê-ô và nàng Giu-li-ét của đại thi hào Sếch-xpia nhưng cũng không thể không rung động trước tình yêu thầm lặng, cao cả trong thơ Puskin:
“Tôi yêu em âm thầm, không hi vọng
Lúc rụt rè, khi hậm hực lòng ghen
Tôi yêu em, yêu chân thành đằm thắm
                                           Cầu em được người tình như tôi đã yêu em”                                                                                  (Tôi yêu em)
          Hẳn ta vẫn còn nhớ mãi một mối tình rụt rè, e ấp của chàng trai thôn Đoài với cô gái thôn Đông trong thơ Nguyễn Bính:
Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Một người chín nhớ mười mong một người
Nắng mưa là vịệc của giời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng
(Tương tư)
       Thế giới thiên nhiên muôn đời vẫn tuần hoàn theo bốn mùa. Nhưng các nhà thơ lại nhìn thiên nhiên trong quan hệ bên trong với đời sống tinh thần con người – có đôi mắt xanh non, Xuân Diệu phát hiện ra thiên nhiên mang vẻ đẹp của tình yêu, tuổi trẻ, là thiên đường trên mặt đất. Nhưng cũng cảnh mùa xuân, Chế Lan Viên lại thấy là vô nghĩa, chán chường, tuyệt vọng:
Tôi có chờ đâu, có đợi đâu
Đem chi xuân lại gợi thêm sầu ?
Với tôi, tất cả nhừ vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau.
(Chiều xuân)
          Mỗi nghệ sĩ có lí lẽ của riêng mình, không thể nói ai sai ai đúng, ai tầm thường ai cao quý mà mỗi người cho ta một cách cảm nhận thế giới mới, đem đến cho người đọc một liều thuốc giảm đau, xoa dịu con người trước hiện thực tù đọng, đều là cách phủ định hiện thực vô nghĩa. Điều quan trọng qua những ảo ảnh đó, ta có những cách cảm nhận về mùa xuân, thấy yêu cuộc sống.
Văn học khám phá con người một cách đa chiều, toàn diện. Tác phẩm văn học là một chỉnh thể thẩm mĩ. Nó không chỉ phản ánh hiện thực cuộc đời, mà hơn thế; nó phản ánh cả hiện thực lòng ngựời. Mác-xen Prút từng đề cập trong nhận định của mình. “Thế giới được tạo lập không phải một lần, mà mỗi lần người nghệ sĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới đựợc tạo lập”. Trong quá trình sáng tạo, người nghệ sĩ nhìn hiện thực cuộc sống qua lăng kính của mình. Hiện thực của cuộc sống là yếu tố đầu tiên, yếu tố quyết định của một tác phẩm. “Mỗi lần người nghệ sĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập”, hiện thực thế giới đa dạng và phong phú, bao nhiêu hiện tượng cuộc sống nhưng người nghệ sĩ phải chưng cất hiện tượng điển hình mang tấm phổ quát để đưa vào tác phẩm của mình.
Xét trên cơ sở này) lời nhận định của Mác-xen Prút cũng đồng quan điểm với phát biểu của Tô Hoài. Tô Hoài cho rằng: “Mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời. Cái nhìn của người nghệ sĩ không đơn thuần chỉ là quan sát đời sống, phát hiện khám phá con người. Ẩn sâu trong cái nhìn ấy chứa đựng hiện thực cuộc sống ở chiều đa diện. Văn học vì con người mà có; do con người sáng tạo nên. Điều đó tưởng chừng như là một quy luật bất biến. Nhưng, còn đó những quy luật khắc nghiệt hơn nữa. Câu chuyện văn chương là câu chuyện “thiên cổ sự” như người xưa nói chăng? Thành ra, bàn mãi về văn chương vẫn khôn cùng, mặc dù vẫn phải bàn mãi về văn chương!
Qua các tác phẩm của các nghệ sĩ lớn, người đọc nhận ra những vấn đề lớn lao của thời đại mình, nhận ra những quan điểm nhân sinh sâu sắc về cuộc sống con người. Sáng tạo nghệ thuật là một sáng tạo tinh thần phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của người nghệ sĩ. Trong văn học người ta phân biệt tác giả này là lãng mạn, tác giả kia là hiện thực đều phụ thuộc vào thiên hướng của nhà văn, phụ thuộc vào sự lựa chọn của họ. Như vậy, trong nghệ thuật và lựa chọn khuynh hướng, thể loại; thi pháp; cảm hứng bao giờ cũng do chủ quan người nghệ sĩ quyết định. Người nghệ sĩ luôn là chủ thể sáng tạo và hiện thực cuộc sống là yếu tố đầu tiên thể hiện phẩm chất của chủ thể ấy. Vũ Trọng Phụng trong bài phản hồi bài báo Dâm hay không dâm đã phát biểu: “Các ông quen nhìn một cô gái nhảy là một phụ nữ tân thời, vui vẻ trung, hi sinh cho ái tình hoặc cách mạng lại gia đình. Riêng tôi, tôi chỉ thấy đó là một người đàn bà vô học, chẳng có gì thi vị, lại hư hỏng, lại bất hiếu bất mục nữa, lại có nhiều vi trùng trong người nữa… Các ông có thể coi phong trào khiêu vũ là dấu hiệu tiến hóa mà các ông chủ trương. Riêng tôi; tôi chỉ thấy đó là một cách dâm bôn cho tăng số gái giang hồ, một tai họa cho nước nhà”. Chính xuất phát từ cách nhìn về hiện thực cuộc sống khác nhau mà cùng viết về đề tài người phụ nữ, trong khi Nhất Linh của Tự lực văn đoàn xây dựng trong Đoạn tuyệt một cô Linh can đảm chống lại sự hà khắc của chế độ phong kiến tồn tại ở gia đình nhà chồng thì Vũ Trọng Phụng lại miêu tả trong Số đỏ một thằng Xuân Tóc Đỏ ma lanh, lố bịch, dốt nát và kệch cỡm. Hiện thực cuộc sống cùng với con mắt khác nhau đã hình thành nên những người nghệ sĩ khác nhau hướng ngòi bút của họ tới những đối tượng, những đề tài khác nhau nhưng trên “mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời”. Như vậy, cái quan trọng không phải là anh viết về cái gì mà quan trọng hơn là anh viết như thế nào, anh viết để làm gì. Bởi cách anh sáng tạo nghệ thuật mới thể hiện tư tưởng của anh hướng tới hiện thực và hướng vào người đọc một tư tưởng nhân văn. Có người nghệ sĩ viết về cái tốt để ca ngợi cái tốt nhưng cũng có người nghệ sĩ muốn ca ngợi cái tốt lại viết về cái xấu, nói cái xấu để phê phán, để căm ghét và khơi gợi trong lòng người sự hướng tới cái tốt đẹp hơn. Tất cả đều phụ thuộc vào đối mắt của người nghệ sĩ. Nếu nói đôi mắt là cửa sổ tâm hồn con người thì đôi mắt của người nghệ sĩ là cửa sổ tâm hồn của tác phẩm. Tư tưởng của họ, nhân sinh quan của họ được soi chiếu trong đó. Bởi, qua “mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời”.
Không có câu chuyện cổ tích nào đẹp hơn câu chuyện cổ tích do chính cuộc sống viết ra” (An-đéc-xen). Không có tác phẩm văn học nào lại không là sản phẩm của cuộc sống hiện thực và đẹp hơn nhờ cuộc sống hiện thực. Và cũng không có gì thay thế được văn học khi phản ánh những giá trị cao cả của con người và cuộc đời. Một tác phẩm văn học có đứng vững trong lòng người hay không chính là nhờ tài năng và phẩm chất của người nghệ sĩ. Phải qua bàn tay nhào nặn của nhà văn, mỗi tác phẩm mới thực sự “soi bóng thời đại”. Viết vể hình ảnh người nông dân Kim Lân tìm đến với những người nông dân nơi xóm ngụ cư nghèo khổ – nạn nhân của nạn đói năm 1945. Câu chuyện mở ra tình huống có phần kì lạ: Anh Tràng nhặt được vợ. Dân gian xưa và nay vẫn quan niệm chuyện cưới xin là câu chuyện trăm năm, trang trọng thiêng liêng, nhưng ở đâỵ không có một đám rước dâu nào, không sính lễ, tặng vật, con người đã đến với nhau giữa cái khốc liệt của những ngày dài đói kém. Song điều đặc biệt ở chỗ Kim Lân đã không khai thác hiện thực thê thảm của nạn đói, nghịch cảnh mà rất dễ dẫn con người ta đến sự tha hóa về nhân phẩm vì miếng ăn. Ông đã khai thác chủ đề này ở phương diện tình thương, từ nghèo khổ, ánh sáng của tình người đã được thắp sáng. Khác với những lời lo âu bàn tán giữa cảnh này mà lại còn đèo bòng, giữa cái nhìn lo lắng; băn khoăn của bà cụ Tứ, anh Tràng thấy “phớn phở” lạ thường. Hắn đi cạnh người phụ nữ kế bên trong niềm sung sướng, hãnh diện. Tâm trạng của Tràng có sự chuyển biến đặc sắc từ hình ảnh một anh cu Tràng xấu xí dở hơi thành một người đàn ông có vợ, nói năng như tình tứ hơn, dí dỏm hơn. “Có một cái gì lạ lắm như chưa bao giờ có ở người đàn ông nghèo khổ ấy, một cái gì ôm ấp mơn man khắp da thịt Tràng tựa hồ như có một bàn tay vuốt nhẹ lên sống lưng”. Mọi sự như đều đổi thay trước mắt Tràng, tình yêu thương khiến anh quên đi mọi khổ đau, hiện thực cám cảnh đẩy ra trước mắt, anh như sống trong một thế giới khác, thế giới êm ái lạ lùng; mênh manh như lơ lửng ở một tầng không nào đó. Từ một tình huống độc đáo hứa hẹn những chi tiết thú vị hấp dẫn, song câu chuỵện Ịại lắng trong lòng ta hơi ấm của cuộc sống, sức mạnh của tình yêu thương làm cuộc sống hồi sinh. Vậy là đâu cần những trang tiểu thuyết dày dặn bề bộn, đâu cần những vần thơ ngân nga sâu lắng; triết lí nhân sinh trong từng trang truyện ngắn vẫn dần thấm sâu vào tâm hồn ta như thứ thuốc bắc càng ngấm càng ngọt.
Mỗi người nghệ sĩ xây dựng trong tâm hồn của mình, trong tác phẩm của mình một thế giới tình ái riêng biệt; không thể so sánh. “Thơ mở ra một cái gì đó mà trước nhà thơ đó, trước câu thơ đó còn bị phong kín” (Nguyễn Tuân). Sức sáng tạo của con người là vô hạn. Bởi vậy, “thế giới được tạo lập không phải một lần” mà rất nhiều lần. Mỗi lần “thế giới được tạo lập” là một lần ta phát hiện thêm những điều mới mẻ về hiện thực cuộc sống. Cái thần của sáng tạo chính là cũng ở người ấy, việc ấỵ, cảnh ấy, ngòi bút người nghệ sĩ đã tìm ra những dáng vẻ riêng biệt trong khi ta trễ nải nhác qua, chẳng thấy khơi gợi được điều gì. Nhận định của Mác-xen Prút đã đề cao vai trò sáng tạo của người nghệ sĩ trong quá trình sáng tác. Cùng với nhận định của Tô Hoài, nó đặt ra yêu cầu về thiên chức của người nghệ sĩ trong quá trình sáng tạo. Người nghệ sĩ phải có khả năng quan sát tinh tường, phải dấn thân nhập cuộc và cố tìm hiểu để khám phá hiện thực và phản ánh một cách chân thực/khách quan vào trong tác phẩm để qua “mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời”. Nhưng sự phản ánh đó không bao giờ được bắt chước, được lặp lại. “Văn chương không cần đến người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa ai có” (Nam Cao). Nghệ thuật phải góp phần cải tạo xã hội. Sáng tạo theo nghĩa đẹp nhất của nó là khám phá ra cái mới, cái lớn, cái đẹp của chính cuộc sống, thời đại, của thế giới tình cảm con người. Người nghệ sĩ chân chính phải sáng tạo nên được thế giới mới và “Mỗi tác phẩm là một phát minh về hình thức và một khám phá mới về nội dung” (Lêônit Lêônôp). Nghệ thuật chân chính không phải là sự hời hợt, giản đơn với đời sống. Nó phải là sự gắn kết chặt chẽ với cuộc đời, Nó đòi hỏi người cầm bút phải có một sự trải nghiệm, thấm thía sâu sắc về cuộc sống và con người. Người cầm bút phải biết lấy chữ của đời, cần cù sáng tạo tích cóp làm nên văn chương nghệ thuật soi bóng thời đại:
Vạt áo của triệu nhà thơ không bọc hết bạc vàng mà đời rơi vãi
Hãy nhặt những chữ của đời mà góp nên trang.
(Chế Lan Viên)
         Muốn thế, bàn viết của người cầm bút phải đặt giữa cuộc đời. Người nghệ sĩ phải trải lòng ra với cuộc đời“sống rồi hãy viết” biết chắt lọc, tích lũy vốn sống từ hiện thực để viết nên trang.
“Mỗi trang văn đều soi bóng thời đại” không chỉ cần đôi mắt hiện thực mà còn cần có đôi mắt tình thương. Mỗi tác phẩm viết ra phải là một bài ca về lòng thương, lòng nhân đạo, phải có “khả năng cải tạo con người, thanh lọc tình cảm” (chữ dùng của Ari-xtốt) và hướng con người tới những gì là cao đẹp. Tiếng gọi của lương tâm và lòng tin ở tương lai không cho phép những nhà văn chân chính sống trên trái đất như một bông hoa điếc và không truyền đạt cho người khác một cách hào phóng nhất tất cả cái phong phú của tư tưởng và tình cảm tràn ngập trong chính tâm hồn nhà văn. Vấn đề “tạo lập thế giới độc đáo” của Mác-xen Prút và yêu cầu “soi bóng thời đại” của Tô Hoài đã trở thành những yêu cầu của văn học muôn đời.
Văn chương chân chính phải khiến cho người ta thấy những gì cao đẹp trong cái vi mô nhỏ bé, người ta phải ngưỡng mộ thán phục những gì bắt nguồn từ ngay chính bên ta. Cuộc sống vẫn tiếp nối, ngày nối ngày và thời gian chảy trôi như một dòng sông không bao giờ quay lại song văn học lưu giữ được những gì đẹp nhất trên mỗi dòng nước tưởng chừng vô hạn ấy. Cuộc sống đã trôi chảy vào con tim của người nghệ sĩ trở thành những vết khắc trong tim để trên mỗi trang văn là những khám phá độc đáo để soi bóng thời đại.
Trong văn học không thể có những nông trang tập thể. Mỗi nghệ sĩ cần có riêng cánh đồng và có riêng thửa ruộng của mình. Cánh đồng đó, thửa ruộng đó là thế giới riêng của mỗi người nghệ sĩ. Những thửa ruộng đó tạo nên bộ mặt của cánh đồng văn học nhân loại và đòi hỏi những thế hệ mai sau phải cày xới và chăm bón.
Triệu Cẩm Quyên
THPT Việt Đức – Hà Nội, Bài đoạt giải Nhất -18/20 điểm

 

ẨN DỤ NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN "BỤI QUÝ" CỦA K.PAUTOPXKI

ẨN DỤ NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN “BỤI QUÝ” – K. PAUXTỐPXKI

       Truyện ngắn Bụi quý kể về Samet, một người thợ quét rác nghèo ở Paris, nhưng có tâm hồn trong sáng, nhân hậu và luôn khao khát cái đẹp. Anh mơ ước dâng tặng cho cô gái Xuyzan một bông hồng vàng như là một biểu tượng cho tình yêu, niềm tin và hạnh phúc. Câu chuyện tưởng như giản dị ấy lại chứa đựng một triết lí sâu xa về nghệ thuật và con người: giữa cuộc sống đầy rác rưởi, vẫn có những “bụi quý”, đó chính là những giá trị tinh thần cao đẹp cần được nâng niu. Qua hệ thống ẩn dụ nghệ thuật đặc sắc, Pauxtốpxki đã gửi gắm quan niệm: nghệ thuật chân chính phải bắt nguồn từ cuộc sống, từ lòng nhân ái và khát vọng hướng thiện của con người.

       Trong văn học Nga thế kỉ XX, K. Pauxtốpxki là một trong những cây bút tiêu biểu cho chủ nghĩa nhân văn trong sáng và nghệ thuật giàu chất thơ. Bụi quý là một truyện ngắn giàu ý nghĩa biểu tượng, thể hiện quan niệm rằng cái đẹp và nghệ thuật không nằm ngoài cuộc sống, mà nảy nở từ chính lòng nhân hậu của con người. Hệ thống ẩn dụ nghệ thuật trong truyện đã góp phần nâng câu chuyện về người quét rác Samet thành biểu tượng cao đẹp cho người nghệ sĩ và thiên chức sáng tạo.

1. “Bụi quý” - ẩn dụ cho cái đẹp và giá trị ẩn sâu trong đời sống

Ngay từ nhan đề, hình ảnh “bụi quý” đã mở ra tầng nghĩa biểu tượng sâu sắc. “Bụi” vốn là cái nhỏ bé, tầm thường, gắn với rác rưởi và bẩn thỉu; nhưng khi đi cùng “quý”, nó trở thành nghịch lí nghệ thuật: cái tầm thường hóa ra lại chứa đựng giá trị cao đẹp. Pauxtốpxki mượn hình ảnh người thợ quét rác Samet để khẳng định rằng ngay trong nơi tối tăm nhất của đời sống, vẫn có những hạt bụi vàng, đó là những phẩm chất lương thiện, nhân hậu, đáng trân trọng. Ở bình diện nghệ thuật, “bụi quý” còn tượng trưng cho chất liệu sáng tạo, cho niềm tin rằng người nghệ sĩ phải “bòn đãi” từ chính cuộc đời mà tìm ra cái đẹp ẩn giấu bên trong con người.

2. “Bông hồng vàng” - ẩn dụ cho tác phẩm nghệ thuật chân chính

Nếu “bụi quý” là chất liệu ban đầu, thì “bông hồng vàng” chính là thành quả sáng tạo tối hậu của người nghệ sĩ. Samet mơ ước dâng tặng Xuyzan bông hồng vàng là biểu tượng cho tình yêu vĩnh cửu, cho cái đẹp không tàn phai. Ẩn dụ ấy vượt khỏi ý nghĩa cụ thể để trở thành biểu tượng cho tác phẩm nghệ thuật chân chính: nó được kết tinh từ lao động tỉ mỉ, từ trái tim yêu thương và khát vọng dâng hiến. Câu nói của nhà văn già trong truyện: “Chúng ta, những người viết, bòn đãi những hạt bụi quý trong cuộc đời để đánh nên bông hồng vàng của mình”, chính là tuyên ngôn nghệ thuật của Pauxtốpxki: nghệ thuật không tách khỏi đời sống mà là sự thăng hoa của nó.

3. “Ánh sáng và bóng tối” - ẩn dụ về sự đối lập giữa tầm thường và cao cả

Không gian truyện với những con phố Paris về đêm đầy rác, bụi và bóng tối, là ẩn dụ cho cái tầm thường, ô trọc trong đời sống con người. Nhưng giữa màn đêm ấy lại sáng lên tâm hồn nhân hậu của Samet như thứ “ánh sáng” của niềm tin và cái đẹp. Pauxtốpxki đã tạo nên một nghịch lí đầy tính thẩm mĩ: bóng tối càng dày, ánh sáng nhân tính càng rực rỡ. Ẩn dụ này thể hiện một triết lí nhân sinh sâu sắc: cái đẹp có thể nảy sinh giữa bùn lầy của cuộc sống, miễn là con người giữ được ánh sáng trong tim. Đây cũng là tinh thần nhân đạo quen thuộc của văn học Nga: tin rằng cái đẹp sẽ cứu rỗi con người.

4. “Người thợ quét rác” - ẩn dụ cho người nghệ sĩ chân chính

Ở tầng sâu, hình tượng Samet không chỉ đại diện cho con người lao động mà còn là ẩn dụ cho người nghệ sĩ đích thực. Công việc quét rác dọn sạch rác rưởi để trả lại sự trong sạch cho phố phường tương ứng với sứ mệnh của người nghệ sĩ: thanh lọc đời sống tinh thần, làm trong sáng tâm hồn con người. Cả hai đều lao động âm thầm, khiêm nhường, nhưng lại góp phần giữ gìn cái đẹp và nhân tính cho xã hội. Pauxtốpxki đã tôn vinh người nghệ sĩ như một “người quét rác tinh thần”, một con người lặng lẽ cống hiến vì sự trong sạch của thế giới.

           Hệ thống ẩn dụ nghệ thuật trong Bụi quý đã khiến câu chuyện nhỏ bé trở thành một bản hòa ca về con người và nghệ thuật. Bằng những hình tượng biểu trưng như “bụi quý”, “bông hồng vàng”, “ánh sáng trong bóng tối”, Pauxtốpxki khẳng định một chân lí thẩm mĩ giản dị mà sâu sắc: cái đẹp luôn hiện hữu trong đời sống bình dị, và nhiệm vụ của người nghệ sĩ là phát hiện, thanh lọc, rồi dâng hiến nó cho con người. Từ câu chuyện về người quét rác Samet, nhà văn gửi đến người đọc một niềm tin bền vững: nghệ thuật chân chính không chỉ ca ngợi cái đẹp, mà còn giữ lại ánh sáng nhân bản trong mỗi tâm hồn người.


Chủ Nhật, 12 tháng 12, 2021

 ĐỀ:

“Một vầng trăng in trong gương
Vẫn là một vầng trăng.
Vầng trăng qua lòng mắt người nghệ sĩ
Có thể thành vô vàn nét đẹp.”
(Theo Phạm Thiên Thư, “Huyền ngôn xanh”)
Những câu thơ trên gợi cho em suy nghĩ gì về cách nhìn của người nghệ sĩ đối với hiện thực cuộc sống? Hãy làm sáng tỏ điều đó qua một số tác phẩm văn chương có hình ảnh vầng trăng.


BÀI LÀM
“Nhà thơ như con ong biến trăm hoa thành một mật
Một giọt mật thành, đòi vạn chuyến ong bay” (Chế Lan Viên)

Người nghệ sĩ trong cuộc hành trình dấn thân vào “vạn chuyến ong bay”, trải nghiệm cuộc sống để phản ánh cuộc sống, để biến “một mật” thành “trăm hoa” qua từng lăng kính chủ quan của chính mình. Có người nhìn đời bằng đôi mắt u buồn thì sự buồn bã cũng nhuốm màu lên toàn bộ cảnh vật, nhưng lại có người ngắm nhìn cuộc sống bằng đôi mắt trong veo, trẻ thơ với đầy sự tò mò thì cảnh vật tự nhiên trở nên tươi sáng, tràn đầy sức sống. Cuộc đời phong phú đa dạng, và qua đôi mắt người nghệ sĩ, cuộc đời có thể trở thành vô vàn nét đẹp, muôn vàn sắc thái, như Phạm Thiên Thư đã từng viết trong “Huyền ngôn xanh”:

“Một vầng trăng in trong gương
Vẫn là một vầng trăng.
Một vầng trăng qua lòng mắt nghệ sĩ
Có thể thành vô vàn nét đẹp”.

Chỉ bằng bốn câu thơ ngắn ngủi, Phạm Thiên Thư đã gợi cho người đọc về cách nhìn của người nghệ sĩ đối với hiện thực cuộc sống. “Vầng trăng” là một hình ảnh lung linh, đầy huyền ảo, là vẻ đẹp của thiên nhiên, của vũ trụ. “Vầng trăng” tự soi mình trong tấm gương, “in trong gương” cái bóng hình của chính mình, và dù có đẹp, có lấp lánh thế nào, nó vẫn là một vầng trăng bình thường, đơn điệu, chẳng có gì độc đáo hơn. Nhưng nếu vầng trăng ấy là “Một vầng trăng qua lòng mắt nghệ sĩ” thì “Có thể thành vô vàn nét đẹp”. Hình ảnh hiện thực trần trụi, xơ cứng được nhìn qua “lòng mắt” – lăng kính chủ quan bao quát và mơ mộng của người nghệ sĩ thì sẽ càng trở nên đẹp, huyền ảo, lung linh hơn nữa. Người nghệ sĩ bằng khả năng quan sát tinh tế, rộng rãi cùng khả năng tưởng tượng, liên tưởng độc đáo và bản chất dào dạt cảm xúc của mình đã dùng từng đường nét, màu sắc, hình khối, nhào nặn nên một “vầng trăng” trong trang văn, trang thơ với vẻ đẹp phong phú hơn, độc đáo hơn, khác hẳn so với hình ảnh đơn điệu, thô cứng mà nó vốn có. Bởi thế, qua lăng kính và cá tính sáng tạo riêng mình, nhà văn khiến cuộc đời như rộng thêm, hiện thực trở nên phong phú hơn, biến đổi những cái đơn điệu thành vô vàn nét đẹp, và từ những nét đẹp ấy tạo nên “bụi vàng” cho tác phẩm văn học, để rồi trở thành “Thứ vũ khí thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo vừa thay đổi một thế giới xấu xa, giả dối, vừa làm tâm hồn người đọc trở nên trong sạch và phong phú hơn” (Thạch Lam).

Quan niệm của Phạm Thiên Thư là chí lý, chí tình, đã khái quát được đặc trưng cơ bản của ăn học. Như vậy, tại sao qua ánh nhìn của người nghệ sĩ, “vầng trăng in trong gương” phải có nét riêng? Văn học nghệ thuật khởi nguồn từ cuộc đời và tiếng nói tình cảm mãnh liệt, với sứ mệnh cao cả là trở thành “Thứ vũ khí thanh cao và đắc lực” để thay đổi hiện thực phải tìm được những cách thức tác động vào tình cảm, tâm tư bạn đọc, rồi từ đó tạo thành sức mạnh tác động trở lại vào cuộc sống. Bạn đọc với tâm hồn và các cung bậc cảm xúc đa dạng sẽ không thể có được sự đồng cảm, không thể bị văn học tác động nếu những điều mà văn học đem lại chỉ toàn là rập khuôn, đơn điệu, “như cây quá thẳng, chim không về” (Chế Lan Viên). Cũng vì lẽ đó, người nghệ sĩ mang những trăn trở, suy ngẫm về thời cuộc nếu muốn ghi lại dấu ấn trên đời, muốn đứa con tinh thần của mình “lắng ở ô nề” và “đọng ở bề sâu” trong tâm hồn bạn đọc thì phải có được thứ “vân tay nghệ thuật riêng”, thể hiện qua cái nhìn độc đáo, mới mẻ, những phát hiện trong quá trình khám phá hiện thực cuộc sống. Vì thế, đến ngay cả những gì đơn giản và đời thường nhất như vầng trăng của thiên nhiên vũ trụ qua đôi mắt đầy sự tò mò, ngỡ ngàng, mê say của các nhà văn, nhà thơ cũng sẽ có những nét riêng, nét sáng tạo mang tính cá thể, không lặp lại người khác và không lặp lại chính mình.

“Một vầng trăng in trong gương” qua lăng kính đầy sáng tạo của nhà văn đều có những nét riêng, vậy tại sao “vầng trăng qua lòng mắt nghệ sĩ” vào trang giấy lại mang “vô vàn nét đẹp”? Văn chương bắt nguồn từ hiện thực, “Cuộc đời là điểm khởi đầu và là điểm đi tới của văn chương” (Tố Hữu), mà hiện thực cuộc sống thì muôn màu muôn vẻ, đầy góc khuất sâu kín, nhà văn hay nhà thơ cũng không thể chỉ bằng một nét bút mà đưa tất cả vào tác phẩm được, đó cũng là “sự bất lực của nghệ thuật” (Nguyễn Thành Long). Chính vì thế, qua hoạt động sáng tạo nghệ thuật mang tính cá thể, lăng kính của từng người nghệ sĩ nhìn cuộc đời với các góc độ khác nhau, phản ánh những điều mang ý nghĩa khác nhau về cuộc sống, không lặp lại cái đã có cũng không lặp lại chính mình, tạo nên một kho tàng văn học vô cùng phong phú và đa dạng cái đẹp. Những điều bình dị như vầng trăng khi vào trang giấy cũng thế, các nhà nghệ sĩ sẽ soi chiếu, nhìn nhận từng góc độ khác nhau của một vầng trăng đơn điệu, rồi từ lăng kính đầy sáng tạo của mình cho ra đời một “vầng trăng qua lòng mắt nghệ sĩ” – vầng trăng trong trang văn chất chứa bao vẻ đẹp và giá trị sâu sắc hơn, bộc lộ những tình cảm, những tư tưởng mà văn nhân, thi nhân hằng trăn trở, từ đó tác động vào khối óc cũng như trái tim bạn đọc, cho họ cảm động trước cái đẹp của tâm hồn và hướng họ đến những Chân – Thiện – Mỹ của cuộc đời.

Nếu trong “lòng mắt” của các nghệ sĩ, “một vầng trăng” đơn điệu có thể trở thành “vô vàn nét đẹp” thì chắc chắn rằng khi đưa hình ảnh ấy vào thơ văn, nét đẹp của “một vầng trăng” sẽ càng tỏa sáng và rực rỡ hơn bao giờ hết. Bởi từ xưa đến nay, trăng luôn là người bạn tri âm tri kỉ đối với người nghệ sĩ, luôn là đề tài thường gặp trong văn học. Có ai mà không nao lòng, xúc động khi được ngắm nhìn ánh trăng yên bình trong cái hiện thực đầy giông bão? Có ai mà không mê đắm trước vẻ đẹp thanh khiết, làm dịu đi vẻ bức bối trong lòng con người mà trăng đem đến? Nói về ánh trăng, không ai say mê trăng bằng Hồ Chí Minh. Dù trong chốn lao tù, Hồ Chí Minh vẫn hướng lòng mình thoát ra khỏi song sắt lạnh lẽo mà đến với vầng trăng yên bình. Và một trong những bài thơ thất ngôn tứ tuyệt tiêu biểu nhất của tập thơ “Nhật ký trong tù” – “Vọng nguyệt” đã cho ta thấy được cách nhìn độc đáo của Hồ Chí Minh đối với vầng trăng:

“Ngục trung vô tửu diệc vô hoa
Đối thử lương tiêu nại nhược hà?
Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt
Nguyệt tòng song khích khán thi gia”.

Dù trong cái hoàn cảnh “ngục trung” và “vô tửu diệc vô hoa” – hoàn cảnh chốn lao tù tăm tối, không hề có rượu cũng chẳng hề có hoa như các thi sĩ ngày xưa vẫn thường có để ngắm trăng và làm thơ thì “Đối thử lương tiêu nại nhược hà?” – cảnh đẹp đêm trăng vẫn lung linh, vẫn huyền ảo, vẫn làm mê đắm lòng người. Trước cảnh sắc tuyệt mỹ của đêm trăng, nhà thơ “hướng song tiền khán minh nguyệt”, hướng ra ngoài song sắt, đưa tâm hồn mình thoát khỏi cái chốn tối tăm, bẩn thỉu và chật hẹp để hướng về vầng trăng. Và vầng trăng thiên nhiên cũng không hề phụ tình cảm của nhà thơ, đã “tòng song khích khán thi gia”, nhòm vào khe cửa nhỏ ngắm nhìn người trong ngục. Ở đây, khi đắm chìm vào khung cảnh ấy, ta thấy bật lên sự giao hòa đến tuyệt đối, tuyệt mỹ của người và trăng. Và qua biện pháp nghệ thuật nhân hóa “Nguyệt tòng”, “khán” cùng với phép đối “Nhân – minh nguyệt”, “Nguyệt – thi gia” cho ta thấy được một vầng trăng thật đặc biệt qua lăng kính của Hồ Chí Minh. Trăng như hóa thân thành người bạn tri âm, tri kỉ, chia sẻ cùng nhà thơ. Trăng tỏa ánh sáng dịu hiền tượng trưng cho quê hương, nguồn cội, soi sáng cho người trong ngục mang chí lớn, người hướng về trăng như đất nước hướng về hòa bình, ngời sáng một niềm tin về tương lai hòa bình độc lập đang đến rất gần. Từ một ánh trăng bình thường, đơn điệu bên song sắt chốn lao tù, qua lăng kính nhà thơ, trăng hiện lên như người bạn đồng hành tri âm tri kỉ, như quê hương, như tương lai hòa bình độc lập. Rõ ràng, vẻ đẹp của hiện thực đã thoát ra khỏi cái nó vốn là, trở nên phong phú hơn, lung linh và ý nghĩa hơn qua đôi mắt của người nghệ sĩ, từ đó lan tỏa đến bạn đọc một niềm cảm phục về sự chiến thắng của tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước cùng sự lạc quan trong Hồ Chí Minh trước cái bóng tối của hiện thực tù túng lạnh lẽo.

Hình ảnh vầng trăng trong trang thơ Hồ Chí Minh mang vẻ đẹp huyền ảo và những cảm xúc đáng trọng của người nghệ sĩ trong cảnh lao tù, khi đất nước còn đang ngập trong khói lửa chiến tranh. Và khi đã thống nhất, nước ta bước vào thời kì hòa bình, nhà thơ Nguyễn Duy với bài thơ “Ánh trăng” còn khiến người đọc nhìn thấy ở vầng trăng không chỉ là vẻ đẹp của một người tri kỉ tình nghĩa mà còn là vẻ đẹp của những bài học nhân sinh sâu sắc, triết lý và truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, chung sống thủy chung cùng quá khứ của dân tộc:

“Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình”.

Trăng thì “tròn vành vạnh”, người thì “vô tình”; trăng thì “im phăng phắc”, người thì “giật mình”. Một loạt các tương phản xuất hiện, ánh trăng hiện lên qua đôi mắt nhân vật trữ tình như một tấm gương sáng soi chiếu lương tâm, để con người tìm lại chính mình, tìm về với những vẻ tinh khôi, thuần khiết đã mất. Từ một vầng trăng bình thường, đơn điệu của thiên nhiên bên khung cửa sổ của “phòng buyn – đinh”, qua đôi mắt nhân vật trữ tình, vầng trăng hiện ra với một vẻ đẹp độc đáo, ý nghĩa qua từ “kể chi” và biện pháp nghệ thuật nhân hóa “im phăng phắc”. Từ “kể chi” là một từ đa nghĩa, rằng không kể vì không thể tha thứ, không đáng nhắc đến hay là không kể vì đã tha thứ và không cần phải nhắc lại nữa? Nhân hóa vầng trăng “im phăng phắc”, một cái im lặng gợi vẻ nghiêm khắc nhưng cũng thật bao dung. Qua lăng kính người nghệ sĩ, ta thấy được rằng vầng trăng đã tha thứ tất cả nhưng con người thì lại không thể tha thứ cho chính bản thân mình. Cái “giật mình” kết thúc bài thơ như một sự thức tỉnh của tiếng nói ăn năn bên trong, là sự trỗi dậy của lương tri, nhận ra mình đã sống quá bội bạc. Đó cũng là kết quả của cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, giữa thủy chung và phụ bạc, giữa quan tâm và vô tình trong mỗi con người, là sự hồi sinh của con người sống ân nghĩa cùng quá khứ mà đã bị quên lãng giữa những tiện nghi vật chất tầm thường. Rõ ràng, qua lăng kính nghệ thuật đầy sáng tạo của Nguyễn Duy, ánh trăng đã trở thành một nét đẹp của những triết lý sâu sắc về lối sống và truyền thống “uống nước nhớ nguồn” đáng tự hào. Như vậy, chỉ qua vài dòng thơ ngắn ngủi, ta đã tìm thấy trong hình ảnh của thiên nhiên, của hiện thực những nét đẹp phong phú, sâu sắc qua lăng kính sáng tạo đầy ấn tượng của người thi sĩ họ Nguyễn.

Qua bài thơ “Vọng nguyệt” của Hồ Chí Minh và “Ánh trăng” của Nguyễn Duy, bạn đọc thấy được một hình ảnh đơn điệu của hiện thực, của vũ trụ khi nhìn qua lăng kính người nghệ sĩ, vầng trăng trong trang giấy đã thoát ra khỏi cái bóng “Vầng trăng in trong gương” để ngời sáng lên những nét đẹp phong phú, tuyệt mỹ, trở thành “vô vàn nét đẹp” như Phạm Thiên Thư đã viết. Và để có thể nhìn cuộc đời, nhìn “vầng trăng” với các góc độc và liên tưởng độc đáo để từ “Một vầng trăng in trong gương” hóa thành “vô vàn nét đẹp” như thế, người nghệ sĩ cần mở rộng tầm mắt và tâm hồn mình để đón lấy những vang vọng, những gì tinh túy của cuộc đời, có khả năng quan sát tinh tế và ngắm nhìn cuộc sống bằng đôi mắt trẻ thơ, bằng cái nhìn thanh tân, mới mẻ đầy sự tò mò, say mê và đưa vào tác phẩm của mình những hình thức nghệ thuật độc đáo, phù hợp, làm cho nội dung của tác phẩm càng có chiều sâu và gây ấn tượng mạnh mẽ trong lòng đọc giả. Bên cạnh đó, người đọc mỗi khi chuẩn bị lật một trang sách cũng nên rèn cho mình một “lòng mắt” của người nghệ sĩ, cảm nhận tác phẩm bằng cả khối óc lẫn trái tim để thấu hiểu những tầng ý nghĩa và bài học sâu sắc mà nhà văn, nhà thơ đã nỗ lực gửi gắm. Bởi nếu thơ hay, văn đẹp mà lòng người nguội lạnh chẳng thể hiểu thì cũng không đem lại lợi ích gì cả.

“Ngày tử thần gõ cửa nhà anh
Anh sẽ có món chi làm tặng vật
Trước vị khách đến thăm tôi sẽ đặt
Cái ly tràn đầy cuộc sống của tôi dâng” 
(Tagore).

Cuộc đời chỉ thực sự đẹp, thực sự trọn vẹn khi ta biết ngắm nhìn mọi vật qua nhiều lăng kính, như nhà nghệ sĩ biến “Một vầng trăng in trong gương” thành “vô vàn nét đẹp” bằng “lòng mắt” của chính mình, giống như Phạm Thiên Thư đã viết trong “Huyền ngôn xanh”. Cũng chính nhờ những lăng kính đầy sáng tạo ấy mà tác phẩm văn học có được những “bụi vàng”, như bộ rễ chắc chắn đâm sâu và vững vàng mãi trong trái tim của từng đọc giả và trong lòng nhân loại. Còn bạn, bạn sẽ chọn tác phẩm văn học với lăng kính như thế nào?

Cao Nhựt Thanh Hiền
Trường THCS Lương Thế Vinh

 🌿Đề:


Chế Lan Viên trong bài thơ Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? : “Hãy biết ơn vị muối của đời cho thơ chất mặn!”

Trong bài Làm thế nào để có tác phẩm tốt?, Lưu Trọng Lư cho rằng: “Sự sống phải được chắt lọc, phải được trau chuốt, phải được nâng lên, phải được “tập trung” cao độ, nó mới biến thành nghệ thuật, cũng như dâu xanh phải biến thành kén vàng, gạo trắng phải bốc thành men rượu. Sự thực phải được sáng tạo, phải nâng cao lên đôi cánh của tư tưởng để lại tác động vào lòng người còn sâu mạnh hơn cả sự sống.”

Bằng những hiểu biết về văn học, anh/ chị hãy bình luận những quan niệm trên.

🌿Bài làm

Trong làn gió ru tình, loài hồng kia vẫn đung đưa mình, xao động, khoe sắc hương. Và giữa những câu văn bay bổng, đầy chất thơ của tâm hồn lãng mạn, phóng khoáng Paustopsky, ta nhận ra trong mình có mỹ cảm cao thượng về “bông hồng vàng” mà lão hót rác già Chamette đã dành tặng cho tình yêu bé nhỏ Suzanne. Vậy, thế gian mê đắm cái sinh động, chân thực của cành hồng trước hiên nhà hay cuồng say với những xúc động thẩm mỹ từ vẻ đẹp bất tử của hình tượng nghệ thuật được chưng cất nên từ hiện thực đời sống? Đó xác thực cũng là những trăn trở của thi sĩ Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? và tác giả của bài luận Làm thế nào để có tác phẩm tốt? Khi Chế Lan Viên phát biểu: “Hãy biết ơn vị muối của đời cho thơ chất mặn!” thì Lưu Trọng Lư cho rằng: “Sự sống phải được chắt lọc, phải được trau chuốt, phải được nâng lên, phải được “tập trung” cao độ, nó mới biến thành nghệ thuật, cũng như dâu xanh phải biến thành kén vàng, gạo trắng phải bốc thành men rượu. Sự thực phải được sáng tạo, phải nâng cao lên đôi cánh của tư tưởng để lại tác động vào lòng người còn sâu mạnh hơn cả sự sống.”

Cuộc đời đa sự luôn tồn tại những nghịch lí, những phạm trù mâu thuẫn đối lập nhau. Như mặt biển phẳng lặng luôn ẩn giấu những đợt sóng ngầm, trong gặp gỡ đã có mầm biệt li, cuộc sống là những phức hợp của khổ đau, hạnh phúc, là những phút giây hân hoan, vui sướng và cũng là những giọt nước mắt thương đau. Tất cả những cung bậc xúc cảm, trạng thái ấy kết tinh nên “vị muối của đời”. Cuộc sống muôn màu với những vấn đề đa đoan của nhân thế, đó là mảnh đất tốt để văn học bén rễ sinh sôi. Công việc của nhà văn là phản ánh và tái hiện đời sống để làm nên “chất mặn” cho trang thơ. Để từ “vị muối” của đời thường ghi tạc trong văn chương, nó làm “mặn lòng” những kẻ đã từng đắm chìm trong trang sách.
Trước khi làm một nghệ sĩ hành hiệp trên văn đàn, tất nhiên nhà thơ nào cũng đã từng là một con người đứng giữa đời sống. Khi mật đời là nguồn dưỡng chất dồi dào để nuôi sống thơ ca, anh phải làm một con ong thợ chăm chỉ cần lao thâm nhập vào thực tế, trải nghiệm đời sống để thấu triệt mọi lẽ nhân sinh. Chính cái bộn bề, phức tạp của đời sống con người khơi dậy trong anh niềm cảm hứng sáng tạo, cung cấp chất liệu thực tế để làm sống động hình tượng nghệ thuật của riêng mình. Từ trường đời lăn lộn đến trang văn, những sóng gió bão táp của số phận như phù sa bồi đắp thêm kinh nghiệm sống lịch lãm, thăng trầm, làm nên “chất mặn” cho những trang thơ, sự sâu nặng trong cái nhìn nghệ thuật độc đáo của người nghệ sĩ về con người và cuộc đời.

Nếu tha nhân có những phút giây yếu lòng, khuất phục trước thương đau, tự tôn cái tôi vị kỷ thì bi kịch thay cho người nghệ sĩ, dù vết thương lòng vẫn còn rỉ máu, trái tim anh vẫn cứ vị tha, đập mãi vì nỗi đau đời, vì những khổ sở vẫn còn tồn tại trên nhân thế. Là người tỉnh táo và bản lĩnh khước từ chén canh Mạnh Bà quên lãng, ngòi bút của thi nhân phải luôn là “thứ khí giới thanh cao đắc lực” phản tỉnh con người, để họ nhận ra “vị muối của đời”, để mà thấm thía, chiêm nghiệm, vượt qua.

Thơ, tự trong bản chất là những xúc cảm đột khởi, thăng hoa mãnh liệt, đồng thời cũng là những triết nghiệm ý vị sâu lắng về đời sống và con người. Phải sống sâu, phải lặn ngụp kĩ vào bể đời, người nghệ sĩ mới kết tinh được “chất muối” tinh quý của cuộc đời để làm nên “chất mặn” cho trang thơ.

Bất kì một người nghệ sĩ nào cũng thoát thai từ một môi trường nhất định. Bất kì một tác phẩm nghệ thuật nào cũng khúc xạ từ những vấn đề trong cuộc sống. Thời đại nào, giọng điệu ấy. Mỗi nhà văn cất bút đều là đứa con cất tiếng của một thời đại xác định. Trên trang văn, người của một thế kỉ đều in đậm những vấn đề mang dấu ấn của thời gian. Từ “bi kịch Eudipe” làm vua của kịch gia vĩ đại Sophocle đã truy vấn sự thật bản nguyên, thuyết thiên mệnh áp đặt lên số phận con người trong buổi bình minh của văn minh nhân loại. Đến “tấn trò đời” bi hài của Balzac đã phản ánh sự lên ngôi của đồng tiền trong xã hội tư sản Pháp. Hay như Lev Tolstoy là tấm gương vĩ đại phản chiếu nước Nga tự cường trong chiến tranh Vệ quốc trước đoàn quân Napoleon trong thiên tiểu thuyết lừng danh “chiến tranh và hòa bình”. Hay Nguyễn Du với mối thương tâm về khúc Bạc mệnh của một kiếp đoạn trường trong lồng sắt xã hội phong kiến Việt Nam tù túng, chật hẹp. Và đến Lỗ Tấn, với con dao nhọn sắc bén ông đã khoan sâu vào những ung nhọt của căn bệnh quốc tính “phép thắng lợi tinh thần” của dân tộc Trung Hoa. Mỗi trang văn đó đều soi bóng thời đại mà nó ra đời, đều thu nhặt những “vị muối của đời” để kết tinh nên “chất mặn của trang thơ”.

Với tiếng bi ca của một trái tim trần, thi sĩ Kobayashi Issa hiểu hơn ai hết về bản chất của cõi tạm phù sinh hư ảo:

“Ta bà một cõi đau
cho dù mùa xuân đó
đang nở những hoa đào.”

Dù sắc xuân đang trong kì nở rộ, dẫu cái đẹp đang trong thời lên ngôi nhưng với tâm hồn tràn đầy xúc cảm, nặng nợ nỗi đau đời và cái nhìn thấu suốt của một thi nhân lịch lãm, Issa thấy trong cái đẹp vẫn có sự xâm lấn của nỗi đau hay là nỗi đau đang dần chuyển hóa, khơi gợi lên trong lòng người những mỹ cảm đầy triết vị. Chính “vị muối” đắng cay của bi kịch đời thường đã kiến tạo nên “chất mặn” của nhận thức về tính biện chứng của quy luật cuộc sống, của tư thế hiên ngang giữa đất trời, chấp nhận và thấu suốt khổ đau. Biển đời không phải là nơi gió dập sóng dồi đọa đày cuộc đời người thi sĩ, mà đấy chính là cái nôi để người cầm bút được sinh thành, làm nên một thi nhân. Ở nơi đấy, có một Issa “bước đi trên mái điện ngục” để ngắm nhìn hoa bay.

Triết gia Aristole vĩ đại đã từng khẳng định: “Nghệ thuật là sự mô phỏng cuộc sống”. Đấy không phải là sự quy chụp nhân sinh trong giới hạn của bốn góc cạnh hay sự sao chép nguyên si bản nguyên đời sống. Hiện thực trong văn chương là khoảng không mở ra thế giới vô cùng, là sự thật đậm đặc, là tinh chất của muối đời đã được “chắt lọc”, “nâng lên”, “tập trung cao độ” mang giá trị tư tưởng cao. Lấy thực tế làm gốc, người nghệ sĩ sáng tạo lại hiện thực, biểu hiện khát vọng và giấc mơ của con người. Dụng công của người phu chữ đèo bòng nợ văn chương là cái nghiệp lao động nghệ thuật, xử lí chất liệu đời sống, chắp cánh tư tưởng cho nguyên liệu thô “dâu xanh”, “gạo trắng”, có thể hóa sinh thành “kén vàng”, bốc lên thành “men rượu”. Để từ đó, hiện thực đời sống được bất tử hóa, không còn chịu lẽ vô thường biến cải nương dâu. Hiện thực mang tính quan niệm, tư tưởng trong văn chương tác động vào lòng người bằng con đường tình cảm, từ thay đổi nhận thức đến biến chuyển hành động, bạn đọc sẽ thay mặc “dâu xanh”, “gạo trắng” để kết tinh nên “kén vàng”, làm nên “men rượu” cho cuộc đời thực.

Trước những cảnh ngộ, bi kịch thoáng qua của cuộc sống, khi quyết định đòi hỏi sự bản lĩnh thì bản năng ích kỉ, vô cảm dễ xâm lấn, trỗi dậy, khiến người ta thờ ơ trước nỗi đau, vết thương của người khác. Nhưng trong không gian thinh lặng của văn học, chỉ còn cuộc đối thoại của bạn đọc với trang sách, tòa án lương tâm sẽ phán quyết, quỷ thần hai vai sẽ chứng ngộ, mọi suy nghĩ, tư tưởng của người đọc đều được suy xét kĩ lưỡng. Khi ấy, tiếng nói của lương tri sẽ lên ngôi. Cộng hưởng với đó là ánh sáng của tầm cao tư tưởng văn nhân soi đường, chỉ lối nên “bông hồng vàng” lấm láp bụi quý của Paustovsky sẽ có sức ám ảnh dài lâu, bền bỉ hơn vẻ đẹp chân thực, sống động của cành hồng trước hiên nhà.

Theo lẽ thường của quy luật sáng tạo, văn học là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Sự thật chỉ có một, như “dâu xanh”, “gạo trắng” của đời thực, loại nào cũng giống nhau. Bằng tài nghệ và sự dụng công của người chưng cất, sẽ đưa ra thành phẩm “kén vàng” và “men rượu” khác nhau. Cũng như bản chất của nghệ thuật là hoạt động sáng tạo mang tính cá thể, là địa hạt của sự độc đáo nên dị bản đời sống sẽ thành hình khác nhau theo cá tính sáng tạo riêng và quan điểm lập trường thời đại mà người nghệ sĩ chịu ảnh hưởng.

Cùng sống trong thời đại nhiễu nhương của xã hội thực dân nửa phong kiến những năm 1930-1945, mỗi người nghệ sĩ bước lên văn đàn với lăng kính nghệ thuật độc đáo đều cho ra những phản chiếu khác biệt về hiện thực đời sống. Như trang văn của Vũ Trọng Phụng đã vạch trần hiện thực xã hội “chó đểu” của lũ người bịp bợm, giả dối với những ảo tưởng về xã hội thượng lưu. Đứng trước “ao đời bằng phẳng” của những phố huyện nghèo tàn tạ, xơ xác, “bóng hoàng lan” Thạch Lam vẫn ngào ngạt hương hy vọng, nâng niu trân trọng những giấc mơ đổi đời, những tâm hồn trong sáng, thơ ngây. Như “củi một cành khô” lạc lõng giữa dòng tràng giang, sống trong hiện thực ấy, Huy Cận thấm thía cảm giác đứng giữa quê hương mà nhớ quê hương. Rạo rực, say mê, cuồng nhiệt hơn cả, Xuân Diệu với cặp mắt xanh non biếc rờn, với niềm giao cảm sâu sắc với đời đã vượt qua được cái bề mặt nổi của hiện thực ngột ngạt tù túng để nhận ra trần thế là một thiên đường ngọt mật và sống đã là một đặc ân.
Với khát khao được khẳng định ý nghĩa của sự tồn tại, giá trị riêng của vân tay nghệ thuật, những gì anh viết ra đều trọn vẹn là những điều anh trăn trở, băn khoăn, trân quý nhất. Đó là mãnh lực đặc biệt để thu hút bạn đọc đến với văn chương. Bởi lẽ, với từng góc độ quan sát, cách cảm, cách nghĩ khác nhau của nhà văn sẽ làm phong phú thêm vốn sống, bồi sâu con mắt tinh đời để bạn đọc phát hiện những chân lí bình dị, những vẻ đẹp khuất lấp trong đời sống hằng ngày. Với lương tâm và trách nhiệm của người cầm bút, thiên chức của người nghệ sĩ sẽ không dễ dàng cho anh buông lơi hiện thực, xa lìa đời sống, ru mộng con người bằng những giấc mơ đời xa xôi.

Văn chương không nên là tấm gương phản chiếu, sao chép đời sống. Văn chương phải là những lời phản tỉnh, tranh biện về cuộc đời, chất vấn về sự tồn tại của con người, phải đặt ra những câu hỏi trăn trở cho thời đại và nhân loại. Với góc nhìn mới mẻ, độc đáo và những phát hiện riêng của người nghệ sĩ trong quá trình sống giữa cuộc đời, cùng trí tưởng tượng phong phú, người nghệ sĩ kiến tạo nên thế giới của ước mơ, lí tưởng, vươn lên trên hiện thực khách quan, để phá vỡ các giới hạn của sự tồn tại. Bởi thế, chân lý nghệ thuật thống nhất nhưng không đồng nhất với chân lý của đời sống.

Có lẽ, tác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh” của nhà văn Bảo Ninh là lời phản biện sâu sắc, gây chấn thương nhất về cái nhìn cũ đầy lòng tự hào về chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Với sự đặc tả, “chắt lọc”, “trau chuốt”, “tập trung cao độ” về những mảnh vỡ kí ức của bi kịch người lính Kiên, ta đã nhận ra sự thật tàn khốc, mặt trái của chiến tranh, cái chết đau khổ của những người lính, sự hủy diệt tàn bạo tình yêu và cái đẹp. Bước qua cuộc chiến, tâm hồn của những người lính trở nên dị dạng, méo mó, mãi mãi không thể bình yên, thanh thản, vượt thoát khỏi bàn tay siết chặt của ám ảnh kinh hoàng về chiến tranh. Lịch sử đã sang trang, hòa bình đã ôm trọn bầu trời yên ả nhưng nỗi buồn về một thời khốc liệt vẫn còn mãi vì từ ấy đã có những con người tuyệt tự với cuộc đời. Với góc nhìn cá nhân về thân phận con người đầy tính nhân bản, nhân loại, qua “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh, người đọc được dịp đối mặt với chính mình, biết biến cải tư tưởng, biết quý trọng con người, biết sống sao cho xứng đáng để không phụ lòng “những người đáng sống nhất lại mãi nằm yên trong sâu thẳm rừng thiêng”.

Nếu trang văn của anh chỉ mãi chăm chú kí thác những “vị muối của đời”, sao chép nguyên si cái bộn bề, phức tạp của đời sống, thì khác chi tác phẩm anh là một bản ghi chép chân thực của đời sống chẳng tác động, lay chuyển gì trong tâm thức người đọc. Nhưng cũng sẽ là hoài công vô ích như kiếp dã tràng, nếu sự sáng tạo, phóng bút của anh không gắn liền với hiện thực đời sống, xa lạ với những vấn đề thuộc về thân phận con người thì văn chương kia khác gì con tem gửi vào vũ trụ, để rồi im lặng biến mất giữa thinh không. Đời sống muôn màu là mảnh đất màu mỡ nuôi dưỡng nghệ thuật, là chìa khóa hữu ích để bạn đọc giải mã mọi hình tượng nghệ thuật phức tạp. Văn chương chân chính luôn đi từ giải thích đúng đắn thế giới đến cải tạo đời sống bằng những sáng tạo nghệ thuật riêng của người nghệ sĩ.

Với bi kịch kiếp sống mòn của người tri thức tiểu tư sản, kết hợp với nguyên tắc điển hình hóa – đặc trưng của chủ nghĩa hiện thực, Nam Cao đã kết tinh nên “vị muối của đời” để sáng tạo nên hình tượng nhân vật Hộ, điển hình với bi kịch vỡ mộng của một nhà văn và bi kịch vi phạm triết lí tình thương của một con người. Đó không phải là vấn đề của một thời, là trăn trở riêng của một người. Chừng nào hiện thực ngột ngạt, tù túng còn va đập, phá vỡ lý tưởng, còn bóp nghẹt ước mơ cao cả của con người thì chừng ấy vẫn còn tiếp diễn những bi kịch tinh thần như nhà văn Hộ của Nam Cao.

Từ hai nhận định của Chế Lan Viên và Lưu Trọng Lư, ta nhận chân phương thức phản ánh và sáng tạo hiện thực của nhà văn. Nhà văn tài năng không chỉ là người thợ đúc chữ điệu nghệ mà còn ở khả năng quan sát tinh tế, rộng rãi về đời sống, phát hiện và phản ánh những bí ẩn hiện thực khuất lấp, ẩn chìm trong nhân sinh. Từ “những điều trông thấy mà đau đớn lòng”, người nghệ sĩ phải chiêm nghiệm sâu sắc, gia cố thêm tầng sâu tư tưởng để tác động sâu vào lòng người đọc. Đến phiên mình, bạn đọc không chỉ thờ ơ, dựa dẫm vào những bài học ý nghĩa trên trang văn. Bằng những trải nghiệm từ trường đời, phút giây trầm mặc trên trang sách, người đọc phải đọc sâu mạch ngầm văn bản, mở rộng chân trời đón nhận để phát hiện được những bến bờ hiện thực mới mẻ trong nghệ thuật và đời sống.

Cành hồng trước hiên nhà sẽ tàn phai theo năm tháng. Duy chỉ “bông hồng vàng” là được bất tử hóa nhờ vào sự dụng công tài nghệ của người nghệ sĩ. Dù phản ánh hiện thực bằng chuyện đời như con ong chăm chỉ hút mật hay như con tằm rút ruột nhả tơ, giãi bày nỗi niềm riêng thì mối quan hoài thường trực của người nghệ sĩ vẫn luôn là số phận con người và hiện thực đời sống. Bởi lẽ, tất cả nghệ thuật trên Trái Đất đều phục vụ cho nghệ thuật sống của con người.

HUỲNH THANH THẮNG
HỌC SINH 12CV TRƯỜNG THPT NGUYỄN THƯỢNG HIỀN
NIÊN KHÓA 2016 - 2019

Marcell Proust quan niệm: “Thế giới được tạo lập không phải một lần, mà mỗi lần người nghệ sMarcelĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập”. Còn Tô Hoài cho rằng: “Mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời”.

  Marcell Proust quan niệm: “Thế giới được tạo lập không phải một lần, mà mỗi lần người nghệ sMarcelĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế ...