Thứ Bảy, 7 tháng 8, 2021

Nghị luận: Thơ ca bắt rễ ở lòng người, nở hoa nơi từ ngữ

 

§  Mở bài:

Từ xưa đến nay, từ cổ chí kim, đông sang tây, thơ không chỉ là sự lặng giữa các từ” mà là tiếng nói của tâm hồn hơn và nhịp thở con tim… Thơ làm lay động triệu triệu trái tim con người, giúp nhận loại sống phong phú và tinh tế hơn. Có thể sức mạnh ấy của thơ ca đã được khởi nguyên từ vấn đề đặt ra trong ý kiến sau: “Thơ ca bắt rễ từ lòng người, nở hoa nơi từ ngữ”.

§  Thân bài:

Nguyễn Văn Thạc cũng đã nói: “bắt đầu từ cuộc sống, từ đó sẽ nảy ra thơ”. Hiện thực cuộc sống muôn hình vạn trạng đã tác động vào giác quan của người nghệ sĩ, khiển họ phấn khích, buồn, đau, hờn giận, căm tủi… và thơ ra đời. Họ đã chọn cây đàn thi ca kì diệu để tấu lên khúc nhạc lòng với bao bao trăn trở, day dứt của minh. Bi-bơ-lây từng khẳng định: “Thơ là thư kí trung thảnh của trái tim”.

Đó chính là đặc trưng của thơ, bắt nguồn và đơm hoa kết trái từ cảm xúc, tình cảm con người. Làm saọ có thể đến với thơ, khi con tim chai cứng, không hồn, khi trái tim không đập những nhịp đập với đồng loại, khi đôi mắt, đôi tai không lắng nghe những thanh âm của cuộc sống dội vào. Song song với cảm xúc mãnh liệt, cháy bỏng, nhà thơ phải có trong mình một tài năng văn chương để có thể giãi bày qua từ ngữ.

Nhà thơ với chất liệu từ ngữ trong tay phải viết nên tác phẩm văn chương có sức làm rung động trái tim người đọc. Ngôn ngữ thi ca phải như muối từ biển, một thứ kim loại không lẫn tạp chất thì mới có thể thể hiện trọn vẹn cảm xúc thăng hoa của người nghệ sĩ. Lí Bạch cũng đã nói: “Trong thơ, tình là gốc, lời là ngọn ”. Vì vậy nhà văn không chỉ có một trái tim mẫn cảm, sống sâu với cuộc đời mà còn phải có một tài năng văn chương tuyệt vời.

Bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt chiếm được cảm tình của người đọc bởi người đọc thấy trong đó cả một tình yêu tha thiết, cháy bỏng của đứa cháu xa quê giành cho người và kính yêu cả một đời tần tảo hi sinh để giữ cho ngọn lửa lòng của cháu cháy mãi. Phải chăng vì thế, bài thơ đã có những lời thơ thật hay:

Giờ cháu đã đi xa, có ngọn khói trăm tàu
Có lửa trăm nhà, niêm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chăng lúc nào quên nhắc nhở
Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?

Ngôn ngữ thơ bình dị, biết bao mà cũng chan chứa nghĩa tình biết bao. Đứa cháu của bà giờ đây đã lớn, đã trưởng thành, được chắp cánh tay vào chân trời cao rộng. Nơi ấy “ngọn khói trăm tàu”, “lửa trăm nhà”, “niềm vui trăm ngả”, vật, chất đầy đủ, dư dả nhưng cháy vẫn không quên bếp củi của bà, bếp củi của một thời thơ ấu. “Chẳng lúc nào quên nhắc nhở” tức là nỗi nhớ bà luôn thường trực và khôn ngui trong tim tác giả.

Ngọn lửa bà truyền cho cháu, đã sưởi ấm cháu nơi xứ Nga lạnh lẽo, là động lực để cháu bước tiếp trên những chặng đường dài và rộng của cuộc đời dù lúc đó bà không còn nữa nhưng bếp lửa vẫn cháy sáng. Hơi ấm từ ngọn lửa lan tỏa cả bài thơ. Từng lời thơ, vần thơ như từng đốm lửa nhen lên trong lòng người đọc. Tình yêu là vô hạn của nhà thơ với ngôn ngữ bình dị đã truyền cho ta ngọn lửa yêu thương, ấm nóng, thăng hoa cảm xúc cùng nhà thơ. Nếu không có một tình yêu bà cháy bỏng, một tài năng văn chương tuyệt vời thì làm sao có một “bếp lửa” làm xao động người đọc đến thế. Bởi thế, nhậ định “Thơ ca bắt rễ từ lòng người, nở hoa nơi từ ngữ” là hoàn toàn có lí.

Thơ ca bắt rễ ở lòng người, ý thơ, hình thơ trải qua sự thanh lọc của tâm hồn người nghệ sĩ, thơ “nở hoa nơi từ ngữ”. Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ ta lại thấy được cả sự say mê, ngất ngây của Thanh Hải trước cảnh đất trời vào xuân. Thiên nhiên đẹp tuyệt diệu đã chấp cánh cho tâm hồn thi nhân bay cao, ông như chìm trong men say nồng nàn của xuân:

Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời?
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng.

Cử chỉ “Tôi đưa tay tôi hứng” thể hiện sự nâng niu, trân trọng của nhà thơ trước vẻ đẹp của thiên nhiên, đất trời lúc với xuân với cảm xúc say sưa, xốn xang, rạo rực. Nhà thơ như muốn ôm trọn vào lòng tất cả sức sống của mùa xuân, của cuộc đời.

Cả một bức tranh xuân như dệt bằng tơ lụa vời từng đường nét sống động hiện lên dưới ngòi bút tài hoa của nhà thơ. Bức tranh xuân ấy có sự mềm mại duyên dáng của dòng sông Hương hiền hòa, sự dịu dàng của sắc tím biếc của bông hoa vươn minh bung nở giữa dòng, có tiếng hót chim chiền chiên vang tận trời xanh. Đã thế màu sắc còn vô cùng hài hòa tươi tắn. Giữa khung cảnh bao la thoáng đãng, vang lên tiếng chim đã làm nhà thơ thăng hoa xúc cảm, nhà thơ cất lên tiếng gọi đầy thiết tha:

Ơi con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời?

Từ cái niềm cảm xúc ấy nhà thơ đã có một sáng tạo thật độc đáo: “Từng giọt long lanh. rơi.Tôi đưa tay tôi hứng”. Âm thanh vốn là vô hình nay đã kết tinh lại thành từng giọt óng ánh, long lanh sắc màu để nhà thơ đưa tay hứng lấy. Hành động hứng lấy đã cho thấy tình yêu tha thiết của nhà thơ giành cho thiên nhiên, cho quê hương xứ Huế mộng mơ. Những vần thơ chứa chan xúc cảm, mang hơi thở của mùa xuân đất trời chỉ có thể bắt nguồn từ một tâm hồn nghệ sĩ, từ một kĩ sư ngôn từ điêu luyện.

Nhưng khi tác phẩm ra đời, nó không còn là của riêng tác giả nữa, nó được người đọc thấu hiểu, chia sẻ, đồng điệu. Lúc này mỗi bài thơ trở thành cầu nối giữa thi nhân và độc giả. Nó không còn nằm im trên trang giấy mà đi vào lòng – người đọc, đốt lên ngọn lửa nồng đượm, hình thành trong mỗi người những suy nghĩ, lẽ sống và khơi gợi để ta sống tốt hơn.

Đọc Ánh trăng của Nguyễn Duy, mỗi người chúng ta ai cũng thấy có minh trong đó. Đó không còn là câu chuyện của riêng Nguyễn Duy mà đã trở thành câu chuyện của mỗi chúng ta. Mỗi người đọc bài thơ không chỉ trào dâng niềm xót xa thương cảm, thổn thức mà còn “giật mình”, nhìn lại chính mình:

Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng.

Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình.

Sau bao tháng năm xa cách, trăng cũng đã gặp lại người, làm sống dậy bao kí ức đẹp đẽ mà lâu nay đã chìm vào quên lãng.Từ láy “vành vạnh đã diễn tả sự tràn đầy viên mãn của vầng hăng. Trăng chính là hiện thân cho quá khứ, thiên nhiên, đất nước, nhân dân bao dung độ lượng không lên án, chê trách con người nhưng đó lại là lời nhắc nhở có sức nặng khiến con người “mình”, “giật mình ”để nhận ra sự ích kỉ nông nổi của bản thẫn, để thấy cần phải thay, đổi cách sống…

Cấu trúc song hành của hai câu thơ, nhịp điệu dồn dập cùng biện pháp tu từ so sánh, điệp ngữ và liệt kê như muốn khắc họa rõ hơn kí ức về thời gian gắn bó chan hòa với thiên nhiên, với vầng trăng lớn lao sâu nặng, nghĩa tình, tri kỉ. Chính thứ ánh sáng dung dị đôn hậu đó của trăng đã chiếu tỏ nhiều kỉ niệm thân thương, đánh thức bao tâm tình vốn tưởng chừng ngủ quên trong góc tối tâm hồn người lính. Chất thơ mộc mạc chân thành như vầng trăng hiền hòa, ngôn ngữ hàm súc, giàu tính biểu cảm như “có cái gì rưng rưng”,đoạn thơ đã đánh động tình cảm nơi người đọc.

Giọng thơ bùi ngùi xúc động, thấm đẫm nhưng suy tư. Không phải ai sống trong hòa bình sung sướng cũng nhớ về quá khứ như Chế Lan Viển đã băn khoăn: “Đôi khi sống trong ánh nắng chan hòa/ Người ta dễ quến đi com mộng dữ đêm qua ”. Sau khi đọc Ảnh , ta lại tự nhìn lại bản thân minh để sống ân tình hơn, thủy chung hơn. Như vậy, chả phải bài thơ đang khiến ta phải tự bước lên con đường làm đẹp bản thân hay sao?

Nhận định trên đã đề cập đến đặc trưng của thơ ca “bắt rễ ở lòng người” và “nở hoa nơi từ ngữ”. Và cũng đề ra nhiệm vụ đối với người nghệ sĩ: Phải sống sâụ với đời, phải trầm vào ngòi bút của bản thân vào bể khổ cuộc đời, cho con tim rung lên trước những nỗi đau của con người…, và nhiêu đó thôi chưa đủ. Xuân Diệu tưng nói: “Một bài thơ hay là phải hay cả hồn lẫn xác”.

Nhà thơ phải biết gieo vào kho ngôn từ vốn không hương sắc dấu ấn của riêng mình, phải biết chọn lọc để mỗi từ, mỗi chữ là tinh túy nhất, đẹp nhất, thì cảm xúc kia mới đến Với trái tim của người đọc. Nếu anh chỉ có cảm xúc chân thành mà không có tài năng văn chương thì làm sao thơ anh được chắp cánh bay đến trái tim người đọc, làm cho tâm hồn họ thực được sống. Ngoài ra, nhãn quan của người nghệ sĩ sẽ phải như đóa hướng dương luôn hướng về mặt trời chân lí, không tô hồng cũng không bôi đen cuộc sống.

Nhưng không phải chỉ có cảm xúc thăng hoa, từ ngữ phong phú mà người nghệ sĩ phải có riêng cho mình một phong cách. Tức là phải sáng tạo, không rập khuôn, sáo mòn, phải “khơi những gì chim ai khơi, sáng tạo những gì chưa có” (Nam Cao). Có thể tác phẩm ấy mới đi sâu vào quần chúng nhân dân, neo đậu lại lòng người “một thứ ánh sáng riêng không bao giờ nhòa” nếu không thì sẽ bị đào thải, hoa chăng chỉ tồn tại ở mỗi người.

Gamzatov đã nêu ý kiến: “Như ngọn lửa bốc lên từ những cành khô, tài năng bắt khởi phát mạnh mẽ từ tình cảm”. Vì vậy thơ sẽ chả bao giờ có nếu không có cảm xúc nhưng cũng không bao giờ được thể hiện ra nếu người nghệ sĩ không là một “kĩ sư ngôn từ”. Thơ khởi phát từ những tình cảm chân thật và càng tha thiết hơn qua lời thơ óng ả, trau chuốt, tinh tế như viên ngọc đã được mài giũa hết sức có thể.

§  Kết bài:

 “Thơ ca bắt rễ ở lòng người, nở hoa nơi từ ngữ”. Nhận định đã nêu bật đặc trưng của thơ, thơ bắt nguồn từ đâu và được truyền tải đến người đọc bằng phương tiện gì. Muốn làm được bài thơ hay, nhà thơ phải có cả “tâm” làm “tài”, phải biết khóc trong lúc vui, đau buồn, khi vui sướng có thể sinh ra những tác phẩm lắng đọng cùng cuộc sống. “Thơ ca bắt rễ từ lòng người, nở hoa nơi từ ngữ”, hơn thế, thơ ca phải bắt rễ vào và nở hoa trong lòng người đọc để đi trọn hành trình tận hiến của mình.

Thứ Ba, 20 tháng 7, 2021

Cảm nhân bài thơ “Xuân hiểu” của Trần Nhân Tông

 Cảm nhân bài thơ “Xuân hiểu” của Trần Nhân Tông

“Thủy khởi khải song phi
Bất tri xuân dĩ quy
Nhất song bạch hồ điệp
Phách phách sấn hoa phi”

(Trần Nhân Tông)

Trần Nhân Tông không những là một vị vua anh minh mà còn là người rất am hiểu thi luật, tâm hồn dạt dào rung cảm. Hơn 700 năm đã qua vần thơ như tiếng vọng thần kì của sông núi thiêng liêng. Hiện nay thơ của nhà vua còn lại không nhiều, chỉ có bài phú nôm “Cư trần lạc đạo phú” và vài chục bài thơ bằng chữ Hán. Trong đó hay nhất là những bài thơ viết vẻ mùa xuân. Xuân hiểu (Buổi sớm mùa xuân) là bài thơ xuân cổ tuyệt bút.

“Buổi sớm mùa xuân
Ngủ dậy ngỏ song mây
Xuân về vẫn chửa hay
Song song đôi bướm trắng
Phất phới sấn hoa bay”.

(Bản dịch của Ngô Tất Tố)

Mùa xuân là mùa của giao cảm giữa đất trời và lòng người. Nguyễn Trãi cũng đã một lần bỡ ngỡ, hân loan trước đất trời trong màu xuân thắm thiết:

“Cỏ xuân như khói bến xuân tươi
Lại có mưa xuân nước vỗ trời”.

(Bến đò xuân đầu trại)

Xuân đã đến từ tối hôm qua mà thi nhân chẳng hay. Sớm nay ngủ dậy muộn, vừa mở cửa sổ ra xem. Mới biết là xuân đã về. Thi nhân biết bao ngỡ ngàng, ngạc nhiên và xúc động:

“Ngủ dậy ngỏ song mây
Xuân về vẫn chửa hay”.

Đằng sau nội dung thông báo “xuân về vẫn chửa hay” hé lộ cho ta biết nhà thơ đang sống giữa những tháng ngày yên vui trong khung cảnh đất nước thanh bình. Giọng điệu khoan thai của vần thơ cũng là nhịp điệu ung dung của cuộc sống nhàn nhã sau khi đã đánh thắng lũ giặc phương Bắc. Gặp lại mùa xuân như gặp lại bạn cố tri vậy. Phải là người yêu thiên nhuên, mến cảnh đẹp, Trần Nhân Tông mới “ngủ dậy” đã “ngỏ song mây”.

Đâu phải thi nhân hướng về ngoại cảnh mà cảnh đã vốn trong tâm người rồi, chỉ cần mở mắt là bắt gặp. Từng phút từng giây, cảnh vật chuyển dịch theo vòng tuân hoàn của vũ trụ, chỉ có lòng người là an tịnh tại tâm. Thế nên, qua hai câu thơ thi nhân ngỡ ngàng về sự chậm trễ của mình. Mới hay, Trần Nhân Tông sống hết mình trong từng khoảnh khắc, vô vi nhưng thức ngộ từng sát-na đang trôi đi, tĩnh mà lại động, có mà như không có, vội vàng mà lại điềm nhiên trong u tịch thời gian.

Thi nhân đã nhìn dòng thời gian đang chuyển luân bằng cái tâm của Phật. Cảnh động mà tâm không động. Tâm như không động nhưng đang chuyển dịch mãnh liệt. Bởi thế, cái thần của bài thơ, cái hồn của vần thơ được cô động ở hai câu tiếp theo. Nhà thơ thật trẻ trung và hồn nhiên khi nhìn thấy ngoại cảnh, lòng đến xao xuyến, rung động.

“Nhất song bạch hồ điệp
Phách phách sấn hoa phi”

(Song song đôi bướm trắng
Phất phới sấn hoa bay)

Xuân về trăm hoa đua nở, phô sắc khoe hương. Nói đến hoa phải nói đến ong bướm. Hai nét vẽ gợi cảm, sống động đặc tả tín hiệu mùa xuân, vẻ đẹp thơ mộng mùa xuân. Hoa xuân như phô sắc khoe hương đợi chờ. Hoa không được đặc tả, ý như chưa cần phô trương cũng đã đủ làm con người ta rạo rực trước hương xuân đang đến. Bướm trắng một đôi, bay “sấn ” tới, đi tháng tới. xông tới khóm hoa… “Phách phách” là từ láy, gợi tả nhịp cảnh vồ rối rít của đôi cánh bướm. Chữ ”sấn” là nhãn tự diễn tả thật sinh động và tế nhị vẻ đẹp nên thơ, sức sống mãnh liệt của thiên nhiên tạo vật buổi xuân về. Bằng cái nhìn non tơ, thi nhân đã cảm và miêu tả một cách thi vị, đáng yêu cái sắc xuân, xuân tinh mơn mởn qua cánh bướm đang rối rít bay sấn tới những đoá hoa xuân.

Nghệ thuật miêu tả tinh tế và điêu luyện. Trên nền hoa xuân rực rỡ muôn hồng nghìn tía nổi lên một đôi bươm bướm trắng. Trên gam màu rực rỡ, lộng lẫy là hai điểm trắng, gợi lên sự thanh khiết, trang nhã, thanh tân. Câu thơ tả cảnh mà ngụ tình, cho thấy con người và thiên nhiên giao hòa, công hưởng.

Câu thơ của Trần Nhân Tông đẹp như bức tranh xuân bằng thuốc nước của một danh họa. Màu trắng của cánh bướm nổi bật trên màu hoa là nghệ thuật “điểm nhấn” trong thi pháp cổ. Nó làm ta liên tưởng đến những vần thơ cổ tuyệt bút:

“Hai cái oanh vàng kêu liễu biếc,
Một hàng cò trắng vút trời xanh “

(Thơ Đỗ Phủ – Tản Đà dịch)

“Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Thiên nhiên trong thơ Trần Nhân Tông đậm đà màu sắc đồng quê. Có khóm liễu xanh cùng tiếng chim hót: “Chim hót véo von liễu nở đầy – Thềm hoa chiều ảnh bóng ‘mây bay” (Cảnh mùa xuân) có cánh cò trên đồng lúa và âm vang tiếng sáo của mục đồng; “Theo lời kèn mục trâu vé hết – Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng” (Thiên Trường vãn vọng ). Có ánh trăng lung linh trên chùm hoa mộc ngậm sương khuya:

“Bên song đèn rụng, sách đẩy giường,
Khi lạnh, đêm thu, đượm giọt sương.
Thức dậy tiếng chày đá lặng ngắt,
Trên chùm hoa mộc, nguyệt lồng gương ”

( Nguyệt – thơ dịch)

Đó là những vẩn thơ cảm hứng trữ tình đặc sắc biểu lộ một hồn thơ tràn đầy tình yêu thiên nhiên, yêu tạo vật và yêu đời tha thiết.

Đến đây, ta chợt giật mình, hai con bướm trắng có thật là hai con bướm trắng hay đó chỉ là ảo ảnh, là tâm cảnh mà thôi. Rõ ràng, trong câu thơ “Nhất song bạch hồ điệp” (một đôi bướm trắng) đang hướng đến khóm hoa, cánh bướm phất phới trong không trung. Thế nhưng, bởi thi nhân đã nhắc đến mùa xuân mà trong lòng đã hiện hình cánh bướm vậy. Bởi quá rộn ràng mà chỉ trong khoảnh khắc, mùa xuân đã tràn ngập ở trong lòng. Cánh bướm tượng trưng cho sự mờ ảo, là bóng hồn bay lên hòa nhập vào đại vũ trụ hoan ca. Thể như lão Trang Tử một ngày  nọ nhìn cánh bướm nà không thể biết mình là bướm hay bướm là mình vậy.

Xuân hiểu là một bài thơ xuân tuyệt hay. Cảnh xuân và tình xuân hoà quyện. Nghệ thuật miêu tả chấm phá, Mỗi đường nét, mỗi màu sắc của hoa, của bướm rất tươi tắn, nhẹ nhàng và thanh thoát. Tả cảnh xuân chớm đến cũng là ngợi ca vẻ đẹp đất nước thanh bình. Yêu mùa xuân cũng là yêu quê hương đất nước. Tâm hồn ông vua – thi sĩ trẻ và đẹp mãi với mùa xuân, với giang sơn Đại Việt. Mà có lẽ, những vị vua trước đây cũng như sau này, do quá mải mê danh vọng, quyền hành, hoặc bỏ bê việc nước chỉ để ăn chơi sa đọa, đua đòi hoa thơm của lạ, xây dựng nhiều cung điện, đền đài để thoả thích “đi chơi ngắm cảnh đẹp”.

Thơ là sự giãi bày, là tiếng nói đồng điệu trong không gian và thời gian. Bài thơ Xuân Hiể́u, viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt đã đi suốt một hành trình trên 7 thế kỷ. Đọc nó, ta cảm thấy tâm hồn mình như được hòa nhập, gần gũi với người xưa hơn.

Thứ Sáu, 25 tháng 6, 2021

Tác phẩm văn học chân chính bao giờ cũng là sự tôn vinh con người qua những hình thức nghệ thuật độc đáo”.

 "Tác phẩm văn học chân chính bao giờ cũng là sự tôn vinh con người qua những hình thức nghệ thuật độc đáo”.

Bằng việc phân tích một tác phẩm đã học, anh (chị) hãy bình luận nhận định trên.

(Đề thi chọn học sinh giỏi Văn toàn quốc năm học 2009 – 2010)

BÀI LÀM THAM KHẢO

      Cuộc sống mở ra với muôn vàn vị ngọt của âm thanh, hình ảnh và thu lắng mình vào tráng văn của bao nghệ sĩ. Văn học ưu ái một chú chim hót vang mừng sáng; thiết tha một cánh hồng phả vào buổi sớm; nhưng bao giờ cũng thế; văn học luôn lấy con người làm tâm điểm phản ánh và vẻ đẹp con người kết tinh nên tác phẩm hay. Có phải thế chăng mà có ý kiến cho rằng: “Tác phẩm văn học chân chính bao giờ cũng là sự tôn vinh con người qua những hình thức nghệ thuật độc đáo”.

Cuộc đời là nơi xuất phát cũng là nơi đi đến của văn học (Tố Hữu). Văn học từ cuộc sống mà ra và làm cho cuộc sống thêm phần đẹp tươi. Đích đến của cuộc hành trình văn chương muôn đời chính là cuộc sống của con người. “Văn học và đời sống là hai vòng tròn đồng tâm, trong đó tâm điểm chính là con người (Nguyễn Minh Châu). Thoát thai từ đời sống, văn chương chân chính mang thiên chức lớn lao cao cả – đó là trở về bồi đắp thêm phần phù sa màu mỡ cho cuộc đời; làm đẹp thêm con người. Văn học bồi đắp cho cuộc sống hay văn học phải tìm ra nhân tố quan trọng nhất là con người để bằng văn chương làm đẹp con người. Ta hiểu vì sao “tác phẩm văn học chân chính bao giờ cũng là sự tôn vinh con người qua những hình thức nghệ thuật độc đáo”. Đòi hỏi hay yêu cầu cho ra đời một tác phẩm phải đi từ huyết quản của cuộc đời, mang trong dòng chữ của mình một hình ảnh con người. Nguyễn Trung Thành đã nhận xét thấu đáo: Văn học là phương thức tồn tại của con người, giữ cho con người mãi mãi là con người, không sa xuống thành con vật, hay thành ông Thánh vô duyên, vô bổ. Văn học là sự vươn tới, sự hướng về, sự níu giữ mãi mãi tính người cho con người. Cái cốt lõi của văn học là tính nhân đạo”. Chúng ta cũng sẽ chỉ lưu giữ trong ngăn kéo của nhân loại những tác phẩm nâng đỡ con người lên bằng tình yêu thương và niềm tin tưởng của người viết. Một tác phẩm văn học có thể nói về núi sông cây cỏ, ca ngợi vẻ đẹp của những đám mây hay bầu trời nhưng một tác phẩm chỉ được coi là tác phẩm chân chính khi người nghệ sĩ biết lấy núi sông cây cỏ kia làm đẹp cho không gian sống của con người, biết lấy trái tim yêu thương của mình nâng đỡ lên bao số phận cuộc sống. Ta thấy An-na Ka-rê-ni-na còn sống mãi bởi vẻ đẹp của con người, dù bi kịch nhưng sáng mãi. Ta thấy Những người khốn khổ của V. Huy-gô vượt qua che phủ của thời gian vẫn đẩy giá trị vì thiên tác phẩm vĩ đại ấy đã cho người đọc biết rằng: Bao nhiêu con người khốn khổ kia đang kêu đòi một cuộc sống tốt đẹp hơn, dù khốn khổ nhưng họ vẫn khát khao được sống lương thiện, được cứu giúp người khác. Chẳng phải V. Huỵ-gô đã nâng con người lên khỏi những nghèo đói tăm tối để thắp sáng cho họ tình yêu thương cao cả sao? Đến với văn học phương Đông, ta đau cùng thánh thơ Đỗ Phủ nỗi đau cao cả trong Bài ca nhà tranh bị gió thu phá. Tuy có nỗi đau cho riêng mình vì nhà mình bị gió thu tốc mái, mình cùng vợ con phải chịu cảnh mưa lạnh suốt đêm trường nhưng trên tất cả là nỗi đau vì người khác. Nhà thơ dân đen ấy từ nỗi đau riêng đau niềm đau chung; quên đi nỗi đau riêng mình để sẻ chia với nỗi đau của muôn người thời đói khổ. Và chính trái tim đồng cảm vĩ đại này đã làm nên một ao ước vĩ đại mà ngàn đời trân trọng: Ước có ngôi nhà chắc chắn ngàn vạn gian để không chỉ cho riêng ta mà cho tất cả người dân đều không phải chịu cảnh đói rét. Mang hình thức tự sự của một câu chữ nhưng quả là một sáng tạo độc đáo trong sự tôn vinh đến tột bậc vẻ đẹp của lòng vị tha, của tinh thần nhân đạo trong trái tim người viết, trong cuộc sống con người. Trở về Việt Nam, ta thêm một lần kính yêu Nguyễn Du, người đã bằng kiệt tác Truyện Kiều nâng con người khỏi những ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến, khỏi những dây trói vô hình đang ngăn cản con người đến với tình yêu, đặc biệt, đưa con người vượt qua bao đau khổ để làm chói ngời trên trang văn vẻ đẹp của chữ tình, chữ nghĩa, chữ hiếu, chữ nhân, vẻ đẹp của một trái tim nhân đạo lớn, của một nghệ sĩ lớn. Mộng Liên Đường chủ nhân đã nhận xét: “Nếu không có con mắt trông thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời thì tài nào có được bút lực ấy”. Tài năng của Nguyễn Du không phải chỉ là miêu tả tuyệt đẹp cảnh gió trăng mây nước, cũng không chỉ ở chỗ phản ánh chân thực những nỗi đau đứt ruột của con người trong cõi trần ai gió bụi mà là yêu thương, sẻ chia, đồng cảm, đồng tình, trân trọng, nâng đỡ, làm đẹp thêm cho tấm lòng Kiều, cho Kim Trọng, cho Từ Hải… cho con người nói chung. Giá trị vĩnh hằng của tác phẩm nghệ thuật chân chính này là có cội nguồn từ những hình tượng được xây nên từ bàn tay nghệ sĩ bậc thầy và tấm lòng nhân đạo lớn của Nguyễn Du. Đó chính là cốt cách, phẩm chất, hương vị tỏa ngát để Truyện Kiều còn nghìn thu vọng mãi, để tiếng thơ của Nguyễn Du mãi là tiếng thương mãi còn động đất trời.

Chí Phèo là một tác phẩm văn học chân chính mà qua đó Nam Cao đã tôn vinh con người qua hình thức nghệ thuật độc đáo. Chí Phèo là một điển hình cho những người nông dân đau khổ sau lũy tre làng Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Trước Nam Cao, Ngô Tất Tố đã có một chị Dậu khổ vì bán con bán chó, Nguyễn Công Hoan có một anh Pha bị bao tầng lớp dồn ép đến bước đường cùng. Chí Phèo của Nam Cao không chỉ bị dồn vào “bước đường cùng”, mà buộc phải bán cả linh hồn và thể xác của mình để trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại, bị cướp cả nhân tính, nhân cách, bị đẩỵ ra ngoài cộng đồng người; đến tận bờ vực của phi nhân loại. Mở đầu tác phẩm, Nam Cao đã đảo lộn thời gian tuyến tính, không đi từ quá khứ mà xuất phát từ tương lai, đẩy ngay Chí Phèo ra giữa sân khấu cuộc đời bằng những tiếng chửi sặc mùi rượu. Hắn giao tiếp với cuộc đời không bằng thanh âm của tiếng người bình thường mà bằng tiếng chửi. Nếu như lúc ấy có anh nông dân nào vì tức mà chửi lại hắn thì hắn còn thấy mình được tính là một con người. Mà giả sử rằng nếu ông trời có tức hắn vì những lời hắn chửi trời mà cho cơn dông sấm sét thì hắn biết hắn nói còn có trời đáp lại. Nhưng đáp lại hắn chỉ là tiếng chó sủa mà thôi, ai cũng lờ hắn đi, coi hắn như chẳng có. Với những dòng kể xen lẫn lời tác giả: “Thế có phí rượu không? Thế thì có khổ hắn không?”, với biện pháp thay đổi điểm nhìn trần thuật liên tục, tác giả kiến tạo được đoạn văn mở đầu vô cùng gây ấn tượng, vừa khiến độc giả bất ngờ, vừa diễn tả được đầy đủ nỗi đau của Chí Phèo.

Nam Cao bắt đầu thuật lại cuộc đời Chí Phèo. Từ một đứa bé trần truồng xám ngắt đến một tuổi thơ đi bán lại cho nhiều người. Từ một anh canh điền hiền lành chất phác đến một thằng săng đá, một con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Chí Phèo là linh hồn đau khổ của làng Vũ Đại. Đến Chí Phèo người ta nhận ra hình ảnh đau khổ nhất, bi kịch lớn nhất của đời người.

Chí Phèo sau khi bị đẩỵ vào tù vì một lí do không ai hay rồi ra tù, trở về làng với nhân dạng méo mó. Nam Cao cứ miêu tả một cách lạnh lùng nhưng đọc kĩ ta thấy: Nam Cao không nói gì đến nguyên nhân Chí Phèo vào tù – cuộc đời người nông dân bị coi rẻ đến mức bị cướp mất quyền tự do mà không biết vì lẽ gì. Con quỷ dữ Chí Phèo ăn vạ, cướp bóc, rạch lên mặt mình vô số những vết mảnh chai, những vết cào đau đớn. Còn gì đau hơn khi chính Chí Phèo đã tự hủy hoại phần nhân hình của mình? Còn gì đau hơn khi bên trong con người kia phần thú đã chiếm lĩnh, phần người bị đẩy ra, phải “khăn gói ra đi”?

Nhưng, một tác phẩm miêu tả cái buồn, cái khổ mà không có một nhiệm vụ nào khác ngoài việc làm lây sang cho chúng ta nỗi buồn thì đó là điều đáng buồn hơn. Nam Cao còn nói với ta về tình người rất sâu nặng. Nam Cao dãn tác phẩm của mình ra và miêu tả vào trong đó một “cuộc tình” Thị Nở – Chí Phèo. Có ai từng nói: Chỉ với năm ngày thôi nhưng Chí Phèo đã sống rồi chết như một con người. Thị Nở xấu ma chê quỷ hờn lại mang trong mình một tình yêu lạ lùng dành cho Chí Phèo – con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Người ta cứ cho rằng tình yêu của Rô-mê-ô và Giu-li-ét mới là tình yêu. Nhưng sẽ vẫn là tình yêu dẫu cho người đàn ông có là Chí Phèo – từng chỉ biết uống rượu cho say và đập đầu, rạch mặt ăn vạ và dẫu cho người đàn bà có là Thị Nở – vừa xấu ma chê quỷ hờn, vừa xác xơ nghèo lại vốn có dòng mả hủi. Gió trăng vô tình trong đêm hè nơi vườn chuối ven sông kia vẫn đẹp biết bao nhiêu khi đã cùng che chở, đồng tình và trăng làm sáng, gió làm mát cho hai nhân hình đau khổ vừa tìm thấy được nhau.

Chí Phèo dù được sống năm ngày yêu thương nhưng vẫn phải đối mặt với bi kịch của mình. Năm ngày yêu đương kia là một thứ thuốc thử của nhân tính để nhận ra trong Chí Phèo vẫn còn khát khao làm người lương thiện, vẫn ước mơ: “Chồng cuốc mướn càỵ thuê, vợ dệt vải, sống một cuộc đời bình yên”. Nhưng rồi Thị Nở cũng nhớ ra mình còn một bà cô trên đời và dừng yêu. Bi kịch tình yêu tan vỡ là chưa đủ, mà đó còn là bi kịch cự tuyệt quyền làm người, bị hất ra khỏi cộng đồng. Chí Phèo không được chấp nhận trở về cuộc sống lương thiện. Quy luật “bước chân đi cấm kì trở lại” của các trò chơi dân gian giờ đối với Chí Phèo lại xót xa biết bao nhiêu. Chí Phèo lại uống rượu nhưng rượu uống mãi khống say, chỉ thấy thoang thoảng hơi cháo hành. Hương cháo hành do Thị Nở tự tay nấu và bón cho Chí trong buổi sáng đầu của chuỗi ngày quấn quyện bên Chí Phèo lúc bấy giờ là minh chứng cho sự trở lại làm người. Nhưng Chí Phèo lại bước chân đi và theo thói quen đến nhà Bá Kiến. Một lưỡi dao vung lên, một vũng máu, một cuộc đời đi vào ngõ cụt. Chí Phèo chết trên ngưỡng cửa của sự hoàn lương; xã hội làng Vũ Đại đang đóng chặt lại cánh cửa cuộc đời, không cho Chí Phèo trở lại.

Nguyên Hồng đã viết về Nam Cao: Anh đã vắt từ những xót xa, quằn quại của mình ra thành những dòng ánh sáng yêu thương và tin tưởng để chứng minh cho sự sống nỗ lực của con người. Nam Cao không chỉ yêu người nông dân mà còn tin. Với ông lòng nhân đạo không chỉ thể hiện ở tình thương mà còn ở niềm tin. Ông tin người nông dân dù có xuống bùn, thậm chí xuống tới đáy bùn, nhưng từ đáy bùn lầy nước đọng vẫn cháy lên những khát vọng làm người lương thiện. Qua cách xây dựng truyện khá đặc sắc, dù bên ngoài lạnh lùng nhưng bên trong sục sôi tình yêu thương, Nam Cao đã viết nên những trang văn, như người ta đã nói không chỉ được viết bằng mực mà bằng máu của trái tim. Nam Cao đã nâng Chí Phèo lên, tôn vinh sự nỗ lực sống của con người.

Tác phẩm văn học chân chính bao giờ cũng là sự tôn vinh con người qua những hình thức nghệ thuật độc đáo. Lấy con người làm trung tâm hay là mang vào, gây dựng lên bên trong tác phẩm văn học của mình một tinh thần nhân đạo sáng ngời. “Văn học là nhân học” (M. Gorki) hay “Tác phẩm văn học sẽ chết nếu nó miêu tả cuộc sống chỉ để miêu tả… nếu nó không phải là tiếng thét khổ đau hay lời ca tụng hân hoan; nếu nó không đặt ra những câu hỏi và không trả lời những câu hỏi đó” (Biêlinxki). Ý kiến đặt ra yêu cầu của văn học phải khơi sâu vào cuộc sống, rằng nhà văn phải để cuộc đời phả gió vào trái tim mình, đi tìm kiếm những hạt bụi vàng lấp lánh trên cuộc đời này để đúc thành những bông hồng vàng sáng chói. Con người cần được tôn vinh như một thực thể đẹp tuyệt diệu. Tuy nhiên không phải chỉ tôn vinh con người, có những tác phẩm văn học trào phúng, nói đến những điều xấu xa của con người, vạch trần bộ mặt giả dối của một lớp người nhưng đó vẫn là những tác phẩm chân chính của bao đời qua vì đi đến tận cùng, những tác phẩm ấy vẫn hướng cho con người đến cái đẹp, đến chân – thiện – mĩ.

Văn học bao đời ví như người hát rong trên suốt chiều dài cuộc sống. Văn học sẽ vì con người mà cất lên tiếng hát yêu thương, cất lên tiếng hát tôn vinh cho cuộc sống đầy hương hoa của con người.

Nguyễn Ngọc Thạch Thảo

Trường THPT Quốc Học Huế – Huế

Bài đạt giải Nhất -18, 5/20 điểm

 

Thứ Bảy, 19 tháng 12, 2020

 ĐỀ BÀI

Con ngựa tốt nhất vẫn cần đến roi da; con người tốt nhất vẫn cần đến những lời khuyên. ( Ngạn ngữ Mông Cổ)

          Ý kiến của anh (chị) về câu ngạn ngữ trên?

          ĐÁP ÁN VÀ BIỂU ĐIỂM CHẤM MÔN VĂN 

           I) Yêu cầu về kĩ năng:

Vận dụng thuần thục cách làm bài văn nghị luận xã hội (nghị luận về một tư tưởng, đạo lí). Có cách viết chặt chẽ, lưu loát.

II)Yêu cầu về kiến thức:

Học sinh có thể đề xuất những cách hiểu, cách bàn luận theo cảm nhận riêng, điều quan trọng là cách hiểu và cách bàn luận ấy phải xuất phát từ việc hiểu đúng câu ngạn ngữ. Nên tổ chức bài làm theo định hướng sau:

1. Giải thích ý nghĩa của câu ngạn ngữ:

- Con ngựa tốt nhất vẫn cần đến roi da là kinh nghiệm thuần dưỡng ngựa của người Mông Cổ

- Con người tốt nhất vẫn cần đến những lời khuyên nói đến tác dụng của lời khuyên với con người

- Từ kinh nghiệm thuần dưỡng vật nuôi, câu ngạn ngữ hướng đến khẳng định vai trò của những lời khuyên với con người (để sống tốt hơn, thông thái hơn, thành đạt hơn...)

2. Bình luận về ý nghĩa của câu ngạn ngữ:

Khẳng định tính chất đúng đắn và thông thái của câu ngạn ngữ:

- Lời khuyên cần thiết cho con người nói chung: lời khuyên vực ta dậy lúc khó khăn, lời khuyên làm dịu lòng khi ta nóng giận, lời khuyên làm tỉnh trí hồ đồ, lời khuyên ghì cương bản năng bất kham của con người bên bờ vực tội lỗi...

- Con người không ai toàn diện, biết hết, nên luôn cần đến những lời khuyên đúng lúc.

- Câu ngạn ngữ đặc biệt hướng đến loại người được cho là ưu việt: người tốt nhất. Người tốt nhất hay thông thái nhất cũng là con người có giới hạn nên cũng rất cần đến những lời khuyên.

- Cần chỉ ra biết tiếp nhận lời khuyên là đúng đắn nhưng nô lệ lời khuyên là tệ hại.

3. Bài học nhận thức và hành động:

- Biết giá trị của những lời góp ý khuyên nhủ của những người xung quanh. Biết cho lời khuyên một cách chân thành.

III) Cách cho điểm:

- Điểm 7-8: Bài chặt chẽ, mạch lạc, đúng hướng. Đáp ứng các yêu cầu về kĩ năng và kiến thức. Có thể còn mắc một vài lỗi nhỏ về diễn đạt.

- Điểm 5-6: Bài tương đối chặt chẽ, đúng hướng. Đáp ứng các yêu cầu cơ bản về kĩ năng và kiến thức. Có thể còn mắc một vài lỗi nhỏ về diễn đạt.

- Điểm 3-4: Bài còn sơ sài nhưng nhìn chung vẫn đúng hướng. Còn mắc một số lỗi về diễn đạt hoặc bài còn chung chung nhưng vẫn đúng hướng. Còn mắc một số lỗi về diễn đạt.

- Điểm 1-2: Bài tản mạn, quá sơ sài hoặc bài tối nghĩa, chưa hoàn chỉnh. 

- Điểm     0: Chưa làm được gì hoặc hoàn toàn lạc đề.


Marcell Proust quan niệm: “Thế giới được tạo lập không phải một lần, mà mỗi lần người nghệ sMarcelĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập”. Còn Tô Hoài cho rằng: “Mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời”.

  Marcell Proust quan niệm: “Thế giới được tạo lập không phải một lần, mà mỗi lần người nghệ sMarcelĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế ...