Thứ Hai, 16 tháng 9, 2019

MỐI TÌNH ĐẸP HƠN TIỂU THUYẾT

MỐI TÌNH ĐẸP HƠN TIỂU THUYẾT!
Mối tình lãng mạn như tiểu thuyết của Nguyễn Đình Thi với ký giả người Pháp

Lê Anh
Giữa những ngày tháng ác liệt nhất của chiến tranh, Nguyễn Đình Thi và Madeleine Riffaud đã cùng nhau viết nên chuyện tình xuyên biên giới đẹp như thơ. Tình yêu của họ dù xa xôi nhưng không bao giờ thôi cháy trong tim. Những cánh thư, những dòng thơ đong đầy yêu thương đã giúp họ vượt qua khoảng cách để thổi bùng ngọn lửa yêu thương.

Tiếng sét ái tình

Năm 1951, cuộc chiến tranh chống Pháp của Việt Nam đang bước vào giai đoạn khốc liệt, quân và nhân dân Việt Nam đang giành được những chiến thắng dồn dập. Vì vậy mà, đoàn đại biểu của Việt Nam nhận được sự quan tâm của nhiều người tại Liên hoan Thanh niên sinh viên thế giới Berlin 1951.

Nổi bật trong đoàn đại biểu của Việt Nam là Nguyễn Đình Thi với vóc dáng cao ráo, đẹp trai và nói tiếng Pháp lưu loát. Khi ấy, chàng trai 27 tuổi Nguyễn Đình Thi là người rất nổi tiếng. Ông chính là tác giả của 2 ca khúc rất được yêu thích Diệt phát xít, Người Hà Nội và là Tổng thư ký Hội Văn hóa cứu quốc kiêm Ủy viên Thường vụ Quốc hội.

Tại Liên hoan năm ấy cũng có một cô gái đặc biệt nổi bật chính là nữ nhà báo người Pháp Madeleine Riffaud. Bà là Nữ du kích đầu tiên hạ sát một sĩ quan Nazi giữa lòng Paris. Bà bị Gestapo bắt năm 1944 và bị kết án tử hình. Tuy nhiên, khi chỉ còn 6 ngày nữa là bị hành quyết thì bà được giải cứu thành công.

Nhan sắc rạng ngời của nhà thơ-nhà báo Madeleine Riffaud.
Năm 1946, Madeleine được nước Pháp phong tặng danh hiệu anh hùng và được thưởng huân chương Bắc Đẩu bội tinh, phần thưởng cao quý nhất của nước Pháp. Không chỉ là một chiến sĩ dũng cảm với nhiều thành tích nổi bật, bà còn là một nhà thơ được công chúng yêu thích. Madeleine chính là tác giả của tập thơ Con ngựa đỏ từng được trao giải văn chương Pháp.

Thời điểm tham dự hội nghị, bà là phóng viên báo Nhân Đạo. Trong đám đông, bà Madeleine luôn là một cô gái nổi bật vì gương mặt thanh tú, làn da trắng hồng, mái tóc đen dài và đôi mắt sâu hút hồn.
Ở Liên hoan ấy, Nguyễn Đình Thi và Madeleine gặp gỡ lần đầu tiên và ngay lập tức trúng tiếng sét ái tình. Tuy nhiên, vì đang mang trọng trách riêng nên họ chỉ dừng lại ở ánh mắt, nụ cười và cái bắt tay xã giao đúng kiểu quan hệ đối ngoại.

Thế nhưng, tình yêu vốn dĩ có sức hút kỳ lạ, khiến ai đã lỡ trúng mũi tên của thần tình ái dù cố gắng đến đâu cũng chẳng thể giấu được. Nguyễn Đình Thi và Madeleine cũng như vậy, dù họ cố gắng giữ khoảng cách nhưng vẫn chẳng thể giấu được những “tín hiệu bất thường” dành cho nhau. Nhiều người tại Liên hoan đã nhận ra điều này, trong đó có nhà văn người Thổ Nhĩ Kỳ Nazim Hikmet và ông chính là người đã giúp họ trở nên gần gũi, thân thiết hơn. Liên hoan kết thúc, Nguyễn Đình Thi và Madeleine chia tay trong lưu luyến.

Mối tình xuyên biên giới

Sau Liên hoan, Nguyễn Đình Thi và Madeleine duy trì tình yêu “xuyên lục địa” bằng thư tín. Họ gửi yêu thương, nỗi nhớ nhung và cả những lời động viên nhau qua những cánh thư, những tấm bưu thiếp.
Những ngôn từ lãng mạn ấy đã thổi bùng yêu thương trong họ. Thế nên, dù xa nhau cả châu lục, tình cảm của họ chẳng phai mờ mà ngày càng nồng thắm theo thời gian.
Nhà thơ Huy Cận trong bài Thương và nhớ bạn Nguyễn Đình Thi (Văn nghệ, số 17 - 18 năm 2003) đã kể rằng: "Cuối năm 1951, một hôm tôi nhận được bức thư của chị Ma-đơ-len Ri-phô gửi cho anh Thi, nhờ tôi chuyển. Ngoài phong bì có đề "Xin mở xem thư và nhớ học thuộc lòng càng tốt, để đọc lại cho anh Thi nghe, nhỡ mà thư có thể trôi mất hoặc ướt khi qua suối qua đèo".
Tôi mở thư ra đọc, bắt đầu bằng hai câu ca dao Việt Nam: "Ông tơ ghét bỏ chi nhau - Chưa vui sum họp đã sầu chia phôi" và "Đôi ta làm bạn thong dong - Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng", tiếp theo là thư bằng tiếng Pháp. Cuối tháng anh Thi mới gặp tôi, tôi đọc cả bức thư cho anh Thi nghe rồi mới giao thư...”.
Với nhà thơ Nguyễn Đình Thi, tình yêu dành cho Madeleine không chỉ nồng nàn qua những cánh thư gửi nàng mà còn được ông gửi vào những câu thơ bất hủ. Trong suốt những năm tháng chiến tranh, ông đã viết nhiều bài thơ tình tặng bà, nhưng người ta nói đến nhiều nhất là bài Nhờ.

Nhà thơ - nhà văn Nguyễn Đình Thi.
Ông đã sáng tác bài thơ này trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong một lần nghỉ chân khi vượt lên đỉnh đèo Pha Đin, Nguyễn Đình Thi đã viết những ca từ tha thiết để tặng người con gái mình yêu. Anh yêu em như anh yêu đất nước/ Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần/ Anh nhớ em mỗi bước đường anh bước/ Mỗi tối anh nằm mỗi miếng anh ăn/ Ngôi sao trong đêm không bao giờ tắt/ Chúng ta yêu nhau chiến đấu suốt đời/ Ngọn lửa trong rừng bập bùng đỏ rực/ Chúng ta yêu nhau kiêu hãnh làm người... là những câu thơ đong đầy yêu thương Nguyễn Đình Thi dành “Tặng M.” (tức Madeleine).
Bài thơ Nhớ của Nguyễn Đình Thi được đánh giá là một trong những bài thơ tình hay nhất thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Bài thơ không nhắc đến một người cụ thể mà sử dụng đại từ nhân xưng, em. Vì vậy mà, Nhờ là tâm trạng chung của mỗi chiến sĩ trên bước đường chiến đấu. Nhưng, với những ai biết được hoàn cảnh ra đời của bài thơ thì sẽ thấy sự tinh tế của tác giả khi “mượn cái chung để thổ lộ tình riêng”.

Năm 1955, 1956, Madeleine Riffaud thường xuyên qua Việt Nam và đây là quãng thời gian hai người gặp nhau. Thế nhưng, vì hoàn cảnh mà họ lại chẳng thể cùng nhau dưới một mái nhà. Trong hoàn cảnh chiến tranh ấy, dù đồng điệu và cùng chung chí hướng nhưng không phải muốn đến với nhau là có thể được. Họ được khuyên “tốt nhất cứ mãi là bạn!” và cả hai đành phải chấp nhận lời khuyên ấy dù con tim đau đến quặn thắt.

Nói là xa, nhưng với nhớ nhung cháy bỏng của một người đàn bà yêu, cộng với niềm trắc ẩn của một nữ nhà báo cách mạng, Madeleine vẫn thường qua lại Việt Nam để gặp Nguyễn Đình Thi và để viết lên những tiếng nói phản ánh cuộc kháng chiến vệ quốc của dân tộc Việt Nam đến bạn bè quốc tế. Bản thân Nguyễn Đình Thi cũng cần mẫn gửi yêu thương cho bà Madeleine bằng những cánh thư.

Mối tình của Madeleine và Nguyễn Đình Thi khiến nhiều người ngưỡng mộ.
Mặc dù họ không nên duyên vợ chồng nhưng sự thủy chung mà Madeleine dành cho Nguyễn Đình Thi khiến nhiều người ngưỡng mộ. Madeleine, dù là người phụ nữ xinh đẹp nhưng đã lựa chọn cuộc sống một mình.
Trong căn hộ của mình, bà dành hẳn một căn phòng để trưng bày các kỷ vật liên quan đến Nguyễn Đình Thi. Choán hết bức tường là ảnh chân dung Nguyễn Đình Thi được phóng to bằng cỡ người thật, la liệt dưới tấm chân dung ấy là những kỷ vật của một thời yêu nhau trong xót xa... Bà cũng chính là người đưa các tiểu thuyết của Nguyễn Đình Thi ra khỏi biên giới Việt Nam.

Ở Việt Nam, Nguyễn Đình Thi cũng trân trọng những kỷ vật của Madeleine như báu vật. Chuyện kể rằng, khi thấy sức khỏe của mình ngày một yếu đi, Nguyễn Đình Thi đã trao cho con trai thứ một chiếc cặp cũ và căng phồng với lời dặn: “Sau khi bố mất mới được mở ra. Tùy con định liệu...”.

Ngày ông mất (18/4/2003), chiếc cặp cũ được mở và trong đó có gần 1.000 bức thư, bưu thiếp, những lời yêu thương cháy bỏng Nguyễn Đình Thi và Madeleine trao nhau trong suốt cuộc yêu thương gần nửa đời người. Đến nay, câu chuyện của họ vẫn được người ta nhắc nhớ với sự ngưỡng mộ dành cho mối tình đẹp hiếm có.

Thứ Bảy, 7 tháng 9, 2019

TRĂNG TRONG THI CA 2


Hình tượng trăng qua tâm hồn các thi sĩ

Phạm Thị thanh – GV ngữ văn.

“Ai mua trăng tôi ban trăng cho

Chẳng bán tình duyên ước hẹn hò”

Có một người thi sĩ yêu trăng, mơ trăng, say trăng nhưng đành phải bán trăng đi để rồi ôm mối sầu cô đơn. Trăng- người bạn tri âm, tri kỉ, trăng – nguồn cảm hứng vô tận cho các thi sĩ thăng hoa cảm xúc.

Trăng dường như đã trở thành duyên nợ đối với mỗi thi nhân. Trong cuộc đời cầm bút mỗi người nghệ sĩ, ai mà chẳng có một vài đôi câu viết về trăng. Nhưng ở mỗi ngòi bút hình tượng trăng lại ánh lên một vẻ đẹp rất riêng. Các thi sĩ tìm đến trăng không chỉ để chiêm ngưỡng mà còn để chia sẻ, để tâm sự, để tìm sự đồng điệu của tâm hồn. “ Thi tiên” Lí Bạch đã xúc cảm trước đêm trăng ở một ở một nơi xa xứ mà viết lên những câu thơ tuyệt bút:

“ Đầu giường ánh trăng rọi

Ngỡ mật đất phủ sương

Ngẩng đầu nhìn trăng sáng

Cúi đầu nhớ cố hương”

Trong đêm trăng mông lung, huyền ảo đầy sương khói người khách tha phương lữ thứ bỗng thấy mình cô đơn, lẻ loi. Một cảm xúc bâng khuâng, xao xuyến và nỗi nhớ quê hương cứ da diết , khôn nguôi. Ánh sáng của vầng trăng như gọi dậy những kỉ niệm yêu thương trong quá khứ, những ngày Lí bạch đứng trên núi Nga Mi để ngắm trăng, để ngắm vẻ đẹp của quê hương. Có một chút gì đó như ngậm ngùi, tiếc nuối trong sâu thẳm trái tim của một người con xa quê.

Vầng trăng trong thơ Lí Bạch khiến cho tâm hồn ta phải rung động, ta lại đến ánh trăng của một tác giả trên quê hương xứ sở Ba Tư :

“ Em yêu ơi ai biết được ngày mai

Ta hãy quên phiền muộn với trăng này

Uống đi em kẻo một ngày nào đấy

Trăng lại về còn ta sẽ xa bay”

( Omakhayya)

Đời người không ai tắm hai lần trên một dòng sông. Ta chỉ sinh ra một lần và cũng một lần đi vào cõi hư vô, chỉ có ánh trăng vàng kia là vĩnh cửu, là mãi mãi. Bởi vậy ta hãy trút bỏ hết những ưu phiền, buồn lo trong cuộc sống để mà thưởng thức vẻ đẹp của thiên nhiên.

Thơ là cung đàn lay động trái tim. Đến với những bài thơ viết về trăng, tâm hồn người đọc bị lay động , cuốn hút:

“ Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng

Tre non đủ lá đan sàng hay chưa?”

Một đêm trăng thật đẹp, thật thơ mộng, trữ tình – trở thành nơi hẹn hò của đôi lứa yêu nhau.Có lẽ, là mỗi người Việt Nam không ai lại không biết đến Truyện Kiều của Nguyễn Du. Nhưng trong 3254 câu thơ lục bát ấy người đọc làm sao co thể quên được cuộc chia tay đầy lưu luyến, bịn rịn của Thúc Sinh và Thúy Kiều:

“ Vầng trăng ai xẻ làm đôi

Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường”

Cuộc chia tay cũng diễn ra vào một đêm trăng thu buồn, lạnh lẽo. Trăng ở đây không phải là vầng trăng của thiên nhiên nữa mà là vằng trăng tình yêu - vầng trăng cô đơn, vầng trăng lẻ bóng, lẻ hình, lẻ đôi – vầng trăng buồn, vầng trăng thương nhớ, chờ mong khắc khoải. Nó cũng mang tâm trạng của con người vậy.

Trong thi ca Việt Nam, Hồ Chí Minh là một trong những tác giả viết nhiều về trăng. Bác tìm đến với trăng như tìm đến với một người bạn thủy chung:

Trong tù không rược cũng không hoa

Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ

Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ

Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ

( Ngắm trăng)

Sống trong ngục tù tăm tối của Tưởng giới Thạch nhưng tâm hồn người tù cách mạng vẫn hướng ra ngoài để giao hòa với thiên nhiên, đất trời. Ngắm trăng, uống rượu, thưởng thức hoa là một thú vui tao nhã của các thi nhân xưa. Ấy vậy mà đêm nay trong tù “ không rược cũng không hoa” nhưng tâm hồn của Người vẫn dạt dào thi hứng: “ Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ”. Đêm trăng đẹp quá, thơ mộng quá, làm sao có thể hờ hững . Ánh trăng lung linh tràn qua khung cửa sổ như mời gọi thi nhân ra mà tâm tình, trò chuyện. Dường như nó cũng biết làm duyên, làm dáng, làm tình, làm tình làm tứ. Nó không “nhìn, ngắm” mà chỉ “ nhòm” thôi. Câu thơ thi vị quá, nó khiến cho trái tim ta phải rung động mà thốt lên rằng: trăng với người, người với trăng như đôi tình nhân gắn bó, thân thiết. Có biết bao nhiêu bài thơ trăng của Hồ Chí minh mà ta không thể kể hết được, song tất cả đều nói lên một điều rằng Hồ Chí Minh là một người yêu thiên nhiên, yêu quê hương tha thiết.

Ai đã từng để hồn mình lạc vào “ Tiếng thu” của Lưu Trọng Lư và “ Nguyệt Cầm” của Xuân Diệu thì mới cảm nhận được cái hay, cái thi vị của những bài thơ trăng:

“ Em không nghe mùa thu

Dưới trăng mờ thổn thức”.

( Tiếng thu- Lưu Trọng Lư)

Có tâm hồn người nghệ sĩ nào mà lại không rung động trước ánh trăng thu bàng bạc, mờ ảo, mơ hồ, huyễn hoặc? Với Lưu Trọng Lư trăng thu lại còn “ thổn thức”, - có suy nghĩ, có tâm trạng rất người. Phải chăng nó hiểu được tâm trạng của cả một thế hệ những nhà thơ mới đang cô đơn trước thời đại? Nỗi thổn thức của lòng người đã lan tỏa ra không gian, tạo vật. Trăng thu đẹp nhưng buồn quá! Ta hãy lắng nghe âm thanh tiếng đàn hòa nhập vào ánh trăng trong thơ Xuân Diệu:

“ Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh

Trăng thương, trăng nhớ hỡi trăng ngần”

( Nguyệt cầm – Xuân Diệu)

Trăng đêm nay là trăng lạnh, trăng thương nhớ. Âm thanh và ánh sáng như trộn lẫn vào nhau. Ánh trăng sáng như soi tỏ nõi cô đơn, trống trải, lạnh giá trong tâm hồn thi sĩ.

Trong thơ mới, có một thi sĩ cô đơn, suốt đời chung thủy với trăng. Đó là Hàn Mạc Tử. Trăng trong thơ Hàn Mạc Tử như một điều huyền bí, màu nhiệm đến kì lạ. Ông nghe được hơi thở của trăng, nhìn được bước đi của trăng. Thi sĩ họ Hàn ấy đã có lần say trăng, đùa giỡn với trăng, ôm trăng vào lòng. Ông chỉ sợ ánh trăng mất đi, tan đi : “ ánh trăng đêm nay sẽ tan đi mất, ta sẽ buồn và nhớ tiếc”. Dưới con mắt của thi nhân, trăng là người con gái đẹp đang độ tuổi xuân thì:

“ Trăng nằm sóng soải trên cành liễu

Đợi gió đông về để lả lơi”

Hay: Người thơ ăn vận toàn trăng cả

Gò má riêng thôi lại đỏ hườm

Hàn Mạc Tử dến vời trăng như là duyên trời đã định. Thật khó ai có thể quên được câu thơ tuyệt bút:

“ Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay”

Câu thơ toàn trăng, một dòng sông trăng, một con thuyền chở trăng . Đẹp đến nào lòng người. Dòng sông trong cõi thự đã chảy vào cõi mộng. Vầng trăng kia có hiểu được bi kịc tâm trạng của Hàn Mạc Tử hay không? Thi sĩ đang phải chống trọi với bệnh tật, đang lâm vào tuyệt vọng vĩnh viễn đau thương.

Nhịp thời gian cứ chảy trôi, cứ đến hẹn rồi lại lên theo quy luật của tạo hóa, ánh trăng kia vẫn khoe sắc đẹp của mình qua từng thời điểm: trăng lưỡi liễm, trăng tròn, trăng khuyết. Nhưng những thi sĩ bất hủ của chúng ta đã trở về với cát bụi.

Vẫn còn đó những bài thơ trăng lung linh tỏa sáng

Nhắn tin cho tác giả
Hoàng Thanh Cao @ 20:54 27/01/2011
Số lượt xem: 579
Số lượt thích: 0 người

Câu thơ hay về Mùa Thu


Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
(Phong Kiều Dạ Bạc)
Trăng tà, tiếng quạ kêu sương
Lửa chài, cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San
(Trương Kế)
………………….
Trăng thu soi sáng Động Đình
Tiêu, Tương một giải, chim hồng sớm bay
Đầy thuyền khách hát như say
Bẵng quên áo thấm sương đầy móc thu
(Lí Bạch)
Từ vào thu đến nay
Gió thu hiu hắt
Sương thu lạnh
Giăng thu bạch
Khói thu xây thành
Lá thu rơi rụng đầu ghềnh
Sông thu đưa lá bao ngành biệt ly
(Cảm thu tiễn thu - Tản Đà)

Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ?
Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô
(Tiếng Thu - Lưu Trọng Lư)
Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng
Đây mùa thu tới – mùa thu tới
Với áo mơ phai dệt lá vàng
( Xuân Diệu)
Đi suốt cả ngày thu
vẫn chưa về tới ngõ
dùng dằng hoa quan họ
nở tím bên sông Thương
………………………………
nắng thu đang trải đầy
đã trăng non múi bưởi
bên cầu con nghé đợi
cả chiều thu sang sông.
(Chiều Sông Thương - Hữu Thỉnh)

mùa thu trong thi ca 2

mùa thu trong thi ca

Trời Cali mấy hôm nay thời tiết đã biến chuyển đổi thay. Mới buổi sáng nắng rực rỡ trên hàng cây, buổi chiều đã có sương khoác kín lãng đãng trên lối về. Một chút gió heo may đã lành lạnh hắt hiu đủ cho lòng chúng ta chùng xuống với chiếc lá rơi nhẹ trên mặt hồ tĩnh lặng như gương. Dẫu không nhìn thấy đâu đây “Một chiếc lá ngô đồng vừa rơi, mọi người đã nhìn thấy mùa thu trở về” (Ngô đồng nhất diệp lạc. Thiên hạ cọng tri thu). Chỉ thấy sương khói xây thành cũng đủ cho lòng nhau se sắt đón thu sang. Đã hơn hàng tỷ năm từ khi có sự hiện hữu trái đất này trong vũ trụ mênh mông, mùa thu đã ra đi và trở lại biết bao nhiêu tỉ lần theo chu kỳ tuần hoàn của tạo hóa. Mùa thu, cái thời tiết lãng mạn trữ tình của thiên nhiên đã trở thành đề tài tuyệt diệu vô tận trong kho tàng văn chương nghệ thuật của nhân loại. Nó đã tạo nên bao nhiêu thi hào, thi bá lỗi lạc Đông Tây kim cổ. Không có một nhà khảo cứu văn học thế giới nào, tổng hợp cho hết được những áng văn chương toàn bích ca ngợi mùa thu. Vì hầu như trong tất cả những thi sĩ của mỗi quốc gia khi mới bắt đầu yêu thơ và chọn con đường sáng tạo thi ca như một nghiệp dĩ cao quý, đều xác quyết không thể nào từ chối hấp lực tuyệt vời đầy xúc động nghệ thuật của mùa thu. Hàng ngàn năm trước, khi địa vị của dòng thơ Đường được đánh giá tuyệt đỉnh của nền văn học Trung Hoa, đã khai mở từ thời Sơ Đường dưới thời Vua Cao Tổ năm Vũ Đức Nguyên Niên đến thời kỳ Vãn Đường dưới thời vua Chiêu Tuyên Đế, kéo dài lịch sử Đường Thi lên đến cả ngàn năm. Tuy nhiên những bài thơ ca ngợi mùa thu của Lý Bạch, Vương Duy, Lưu Vũ Tích, Giả Đảo, Thôi Hiệu, Vương Hàn, Đỗ Phủ... cho đến bây giờ chúng ta có dịp đọc lại vẫn cảm nhận cái thâm hậu, kỳ tuyệt cao khiết biết dường nào. Đêm thu, trăng lặn, quạ kêu, sương đầy trời, hàng phong bên sông, ngọn lửa thuyền chài hắt hiu, nửa khuya tiếng chuông chùa ngân nga làm rung động sóng nước, Trương Kế đã viết nên bài thơ để đời:

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
(Phong Kiều Dạ Bạc)

Trăng tà, tiếng quạ kêu sương
Lửa chài, cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San
(Trương Kế)

Một cảm tác về đêm trăng mùa thu bơi thuyền ở Hồ Động Đình của Lý Bạch:

Động Đình Hồ tây thu nguyệt huy
Tiêu, Tương giang Bắc tảo hồng phi
Túy khách mãn thuyền ca Bạch trữ
Bất tri sương lộ nhập thu y

Trăng thu soi sáng Động Đình
Tiêu, Tương một giải, chim hồng sớm bay
Đầy thuyền khách hát như say
Bẵng quên áo thấm sương đầy móc thu
(Lí Bạch)

Những thi văn tài lỗi lạc của thế giới văn chương Tây Phương thường được nhắc nhở đến nhiều nhất là Charles Beaudelaire, Paul Verlaine, Anatole France... đã sáng tác nhiều thi phẩm ca ngợi mùa thu diễm tuyệt. Chính những trường phái thi ca lãng mạn, tượng trưng vào cuối thế kỷ 19 ở Pháp đã tạo nên những ảnh hưởng sâu đậm, đối với các thi sĩ Việt Nam như trường hợp của Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Huy Cận, Vũ Đình Liên... tạo thành văn học sử của trường phái thơ mới ở thời điểm tiền chiến. Chúng ta hãy lắng nghe bài thơ tả cảnh thu của Huy Cận:

Nai cao gót lẫn trong mù
Xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về
Sắc trời trôi nhạt dưới khe
Chim đi, lá rụng cành nghe lạnh lùng
Sầu thu lên vút song song
Với cây hiu hắt, với lòng quạnh hiu

Mùa thu đã thực sự vực dậy trong tiềm thức chúng ta những kỷ niệm êm đềm của một thời tuổi trẻ. Những con phố tịch liêu. Những tháp cổ rêu phong. Những am mây sầu thảm. Những tiền kiếp u trầm có nhau. Những tảng đá xanh trầm mặc. Những hàng cây tĩnh tâm khoác áo sương mù. Những ngọn đỉnh gió hú hoang tịch ngàn năm. Trong cuộc trường chinh ngôn ngữ hiện hữu với bao nhiêu thăng trầm theo mệnh số, chúng ta đã bao nhiêu lần gọi thu về đuổi nắng chói chang đi. Những buổi chiều thu đẫm ướt nỗi buồn vơ vẩn, cám dỗ ta bằng nỗi quạnh hiu, bằng những chiếc lá vàng rơi trên lối về lẻ loi như cánh hạc xa bầy:

Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ?

Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô
(Tiếng Thu - Lưu Trọng Lư)

Trong Thi Nhân Việt Nam xuất bản từ năm 1941, Hoài Thanh - Hoài Chân đã nhận định về nhà thơ Lưu Trọng Lư: “à Lưu Trọng Lư có những bài thơ cứ vương vấn trong trí tôi hằng tháng, lúc nào cũng như văng vẳng bên tai. Bởi vì thơ Lư nhiều bài thực không phải là thơ, nghĩa là những công trình nghệ thuật, mà chính là tiếng lòng thổn thức cùng hòa theo tiếng thổn thức của lòng ta...“

Không phải chỉ có nước Trung Hoa cổ là một mùa thu bát ngát, ở xứ Việt Nam mùa thu vẫn tạo nên những cảnh trí thật mơ màng quyến rũ đấy chứ. Bằng chứng đối với văn nhân thi sĩ nước ta trong suốt cuộc hành trình phát huy văn hóa dân tộc, đề tài mùa thu vẫn ghi nhận vượt trội hơn những cảm hứng so với số lượng sáng tác những mùa khác trong năm. Với cảnh trời thu man mác thơ mộng, sương khói lãng đãng giăng khắp núi đồi, đã thoáng hiện não nề trong Đoạn Trường Tân Thanh của cụ Nguyễn Du, trong Chinh Phụ Ngâm Khúc của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm, trong Bích Câu Kỳ Ngộ của Vô Danh Thị, ... trong những bài Thu Ẩm, Thu Điếu của Tam Nguyên Yên Đỗ, trong thơ của thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu chan chứa những nỗi niềm thu bi thiết:

Ngọn gió thu phong rụng lá vàng
Lá bay hàng xóm lá bay sang
Vàng bay mấy lá năm già nữa
Hờ hững ai xui thiếp phụ chàng

Ngọn gió thu phong rụng lá hồng
Lá bay tường bắc lá sang đông
Vàng bay mấy lá năm hồ hết
Thơ thẩn kìa ai vẫn đứng trông
(Gió Thu)

Xuân Diệu, một trong những nhân vật tiên phong của phái thơ mới, chống lại những khuôn mòn sáo cũ, câu nệ quá đáng vào niêm luật tù túng không tạo cho hồn và ý thơ bay bổng lên đỉnh cao của nghệ thuật. Nếu nói đến thơ tình thì Xuân Diệu được công nhận trải qua thời gian vài thập niên ông vẫn giữ địa vị đặc thù trên thi đàn Việt Nam. Tuy nhiên, về cảm xúc sáng tác từ gợi ý mùa thu, Xuân Diệu cũng tạo nên những thành tích đáng kể qua những thi phẩm như: Nguyệt Cầm, Nhị Hồ, Ý Thu... và Đây Mùa Thu Tới:

Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng
Đây mùa thu tới – mùa thu tới
Với áo mơ phai dệt lá vàng

Hơn một loài hoa đã rụng cành
Trong vườn sắc đỏ rửa màu xanh
Những luồng run rẩy rung rinh lá
Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh

Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ
Non xa khởi sự nhạt sương mờ
Đã nghe rét mướt luồn trong gió
Đã vắng người sang những chuyến đò...

Mây vẫn từng không, chim bay đi
Khí trời u uất hận chia ly
Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói
Tựa cửa nhìn xa, nghĩ ngợi gì?…

Từ khi tuổi vừa chớm yêu đương, tôi đã có những nỗi buồn vu vơ khi tiết trời se sắt lạnh, lá bàng rơi trên lối đi về trong thành phố mái rêu phong cổ kính chứng tích của một thuở “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo. Ngõ cũ lâu đài bóng tịch dương” (Bà Huyện Thanh Quan).

Trong thơ Chế Lan Viên, ông vẽ nên những cảnh điêu tàn, niềm luyến tiếc đến một thuở vàng son, oanh liệt ngày xưa. Ông có trí tưởng tượng phong phú, tuy nhiên, những chữ ông diễn tả giản dị, đơn sơ nhưng không đánh mất nét thơ mộng bất ngờ. Chúng ta hãy lắng nghe những lời than thở của tâm trạng não nề đón thu sang:

Chao ôi! Thu đã tới rồi sao?
Thu trước vừa qua mới độ nào!
Mới độ nào đây, hoa rạn vỡ
Nắng hồng choàng ấp dãy bàng cao

Cũng mới độ nào trong gió lộng
Nến lau bừng sáng núi lau xanh
Bướm vàng, nhè nhẹ bay ngang bóng
Những khóm tre cao rũ trước mành

Thu đến đây! Chừ, mới nói răng?
Chừ đây, buồn giận biết bao ngăn?
Tìm cho những cánh hoa đang rụng
Tôi kiếm trong hoa chút sắc tàn!…
(Thu – Chế Lan Viên)

Qua đến câu chuyện tình thu buồn của T.T.KH với những tâm sự não nề ẩn chứa một cách xót xa cay đắng trong những bài thơ Hai Sắc Hoa Ty Gôn, Bài Thơ Thứ Nhất, Đan Áo Cho Chồng, Bài Thơ Cuối Cùng... đã hơn một thời gây nhiều xúc động trong giới văn học:

...Từ đấy, thu rồi, thu lại thu
Lòng tôi còn giá đến bao giờ
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ
Người ấy, cho nên vẫn hững hờ...

...Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạnh lẽo của chồng tôi
Mà từng thu chết, từng thu chết
Vẫn giấu trong tim bóng một người

...Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng
Trời ơi! Người ấy có buồn không?
Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ
Tựa trái tim phai tựa máu hồng?

Tất cả vật chất hiện hữu trong thế gian này sẽ hủy hoại qua thời gian. Chỉ có thế giới siêu tưởng mới là nơi chốn thi nhân hy vọng gởi gắm ít nhiều khổ đau miên viễn. Như trường hợp thi sĩ Đinh Hùng đã đào sâu trong huyệt mộ dĩ vãng, để tìm lại bóng hình yêu dấu của người tình muôn thuở:

...Trời cuối thu rồi - Em ở đâu?
Nằm bên đất lạnh chắc em sầu
Thu ơi! Đánh thức hồn ma dậy
Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu!

...Em mộng về đâu
Em mất về đâu
Từng đêm tôi nguyện, tôi cầu
Đây màu hương khói là màu mắt xưa
(Gửi Người Dưới Mộ)

Bốn bề bát ngát buồn hiu hắt, những cành khô khẳng khiu in trên nền trời trắng đục chẳng khác nào bức tranh thủy mạc của thiên nhiên quá tuyệt vời, chỉ có mắt nhìn của nghệ sĩ mới khám phá ra từ ngàn năm tác phẩm vĩ đại đó. Chúng ta không ngạc nhiên đã thẩm thấu trong tâm hồn những nhà văn nhà thơ Thanh Tịnh, Thế Lữ, Hồ Dzếnh, Thâm Tâm... Và mãi cho đến thời kỳ hậu chiến, chúng ta khám phá càng nhiều hơn những tác phẩm lừng lẫy của thi đàn văn học miền Nam.

Trong cái thế giới ngôn ngữ thi ca đầy mê hoặc của Bùi Giáng, ông đã tạo nên cái sắc thái hòa hợp đầy kỳ ảo thần tình của hai dòng văn học uyên bác Đông Tây trong những thi tập Mưa Nguồn, Lá Hoa Cồn, Ngàn Thu Rớt Hột, Đêm Ngắm Trăng... và hơn hàng ngàn bài thơ ông sáng tác gần nửa thế kỷ, ông như một biểu tượng thiên tài lỗi lạc của văn học hiện đại. Trong số lượng thơ mênh mông đó, mùa thu cũng đã khiêm nhượng xuất hiện bàng bạc trong tâm hồn thi sĩ:

...Phải là nguyệt giữa đêm rằm?
Nguyên Tiêu lãng đãng lá nằm ngẩn ngơ
Kể từ hằng thủy ban sơ?
Kể từ sơ thủy về tờ vẽ trang?

Kể từ thu tạ lên đàng?
Rừng phong thu đã quan san nhuộm màu?
Phải rằng đó trước kia sau?
Hay là sau trước còn tao ngộ gì?

Bước vào cái không khí đầy ảo giác mơ hồ, trữ tình của Nguyên Sa. Thơ tình của ông đã thoát khỏi những băn khoăn, siêu hình. Tình yêu hiển lộng thánh hóa trong một phối cảnh thiên nhiên tuyệt vời của mùa thu kiều diễm:

Tôi đã gặp em từ bao giờ
Kể từ nguyệt bạch xuống đêm khuya
Kể từ gió thổi trong vừng tóc
Hay lúc thu về cánh nhạn kia?

Có phải em mang trên áo bay
Hai phần gió thổi, một phần mây
Hay là em gói mây trong áo
Rồi thở cho làn áo trắng bay?

Có phải mùa thu sắp sửa về
Hay là gió lạnh lúc đêm khuya
Hay là em chọn sai màu áo
Để nắng thu vàng giữa lối đi?

Có phải rằng tôi chưa được quen
Làm sao buổi sáng đợi chờ em
Hay từng hơi thở là âm nhạc
Đàn xuống cung trầm, mắt nhớ thương

Buổi tối tôi ngồi nghe sao khuya
Đi về bằng những ngón chân thưa
Và nghe em ghé vào giấc mộng
Vành nón nghiêng buồn trong gió đưa

Tôi không biết rằng lạ hay quen
Chỉ biết em mang theo nghê thường
Cho nên cặp mắt mờ hư ảo
Cả bốn chân trời chỉ có em
(Tương Tư)

Trong sinh hoạt thi ca ở hải ngoại... Du Tử Lê, nhà thơ được công nhận như một thi sĩ hàng đầu viết về tình yêu hiện nay. Ông có sức sáng tạo phong phú, mỗi năm đều trình làng dăm ba tác phẩm thơ văn. Riêng trong thi tập “Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu”, Du Tử Lê xuất sắc với nhiều bài thơ ca ngợi mùa thu tình ái, ngôn ngữ mới lạ, phù thủy, lôi cuốn và mê hoặc. Chúng tôi yêu nhất “Bài Nhân Gian Tháng Tám” của ông:

Buổi chiều xám chỗ ngồi tôi tháng tám
Em dung nhan như một vết dao
Trong trí nhớ của một người khánh tận
Núi sông người thoáng chốc cũng hư hao

Em mười bảy bước chân vào tháng chạp
Hàng cây khô vai gọi lá hai hàng
Đâu sự thật cảnh đời tôi đã xế
Em đi qua, chỉ thức dậy điêu tàn

Đêm cao ốc bàn tay buồn, mắt lặng
Gió mưa đi tít tận trời nào
Môi tháng sáu bao dung hồn phiêu bạt
Em tin không? Tôi chết ngọt ngào

Em bước xuống cuộc đời tôi ảm đạm
Với bình minh, mười bảy vết son tươi
Kẻ khánh tận, cuối cùng soi trí nhớ
Trong bài thơ tháng bảy đã chia hai

Nếu em biết có lần tôi đã hỏi
Tôi đợi ai cuối cuộc chơi này?
Như tháng tám đi qua người sẽ khuất
Riêng vết son còn đỏ nẫu môi cười

Bài thơ nhỏ gói nỗi sầu vô hạn
Đường chim đi, nghìn dặm có ai tìm
Em không thể thì thôi đừng nắng, gió
Củi than riêng, tôi đốt một mình

Đêm tháng tám, chỗ ngồi tôi lửa cháy

Đến lúc tình yêu được quan niệm sâu xa hơn, vượt thoát ra khỏi những trăn trở khổ đau của định mệnh. Tình thương mới đích thực rộng lớn thăng hoa giữa con người với con người. Đó mới là giây phút hạnh phúc, sứ mệnh giác tha độ lượng của người nghệ sĩ, luôn luôn muốn đề cao cái đẹp vĩnh cửu của tâm hồn.

Giữa cảnh trí tiêu điều mùa thu, một người ở tù nhiều năm trở về thăm lại làng xưa, nhà thơ Tô Thùy Yên đã giữ được tâm bình lặng ... Ông đã thẩm thấu triết lý sâu sắc của người phương Đông.

...Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cám ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi

...Ta về như lá rụng về cội
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chút rượu hồng đây, xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc biển dâu nầy

...Ta về như hạc vàng thương nhớ
Một thuở trần gian bay lướt qua
Ta tiếc đời ta sao hữu hạn
Đành không trải hết được lòng ta
(Ta Về – Tô Thùy Yên)

Mang tâm trạng của kẻ tha hương lúc nào cũng nhớ về cố xứ thân yêu. Nhà thơ Tuệ Nga đã biểu hiện nỗi niềm nhớ nhung trong những thi phẩm xuất bản ở hải ngoại. Không ngô đồng mà cũng vọng tưởng như “ngô đồng lác đác” trong lòng khi trời hiu hắt thu sang:

Ngô đồng lác đác báo Thu sang
Vườn cũ hoa xưa có điểm vàng
Khói loạn bốn phương sầu ngút ngút
Gió cuồng tám hướng hận mang mang

Mực hoen lòng giấy tình ngăn lối
Bút đọng niềm thương lệ ố vàng?
Sương tuyết nhạt nhòa Trăng cổ độ
Nghe chiều thế sự sóng âm vang...
(Thu Sơ)

Hằng đêm chúng ta nhìn lên bầu trời lấp lánh hàng muôn triệu vì sao, đâu có biết những thiên hà xinh đẹp thơ mộng đó, xa cách chúng ta hàng chục tỉ năm ánh sáng, có nhiều thiên hà đã mất hút từ lâu, hôm nay chúng ta mới nhìn thấy ánh sáng. Những biến thiên của vũ trụ cũng chỉ là những hiện tượng sắc không, nên thời tiết mùa thu của mỗi năm thường thay đổi. Tuy nhiên, những tác phẩm ca ngợi mùa thu thì vĩnh cửu, vượt thời gian.

Cứ mỗi năm, khi bước chân trẻ thơ rộn rã trên đường đến lớp học hay reo vui với nhịp trống múa lân giữa muôn sắc màu lộng lẫy, của những chiếc lồng đèn thắp sáng mừng đón Tiết Trung Thu, theo truyền thống Dân Tộc, tâm hồn người tha hương cũng xao xuyến bâng khuâng, tưởng nhớ đến những chuỗi ngày thơ ấu trên quê hương Việt Nam thanh bình.

Con đường quen thuộc, buổi sáng đi qua, buổi chiều trở lại như nhịp đập buồn bã của trái tim người lữ khách già nơi nghìn dặm quê người. Giữa những hàng cây thay lá gần hai mươi năm qua ròng rã, miệt mài, thầm lặng. Cũng như sáng hôm nay, chính ta khám phá mùa thu đã hiên ngang trở về, thong thả, bình an theo mây trời hạ xuống nhân gian, từng bước lụa là êm ả đầy quyến rũ trữ tình. Lòng ta cũng rạo rực yêu với thu. Nói thầm với thu sao mà dễ thương quá như thuở ban đầu tỏ tình với em hồn nhiên và trong sáng như hoa cỏ trong khu vườn dấu yêu, nơi một góc trời Đà Nẵng đầy thơ mộng.

Nếu hiểu được thời gian và không gian là khoảnh khắc vô thường, thì ta đang ở Cali hay phương trời nào khác, mùa thu vẫn không bội phản từ trong tâm thức thủy chung với nỗi đau của đất trời nơi cố quận thân thương.

Thái Tú Hạp

Mùa Thu trong thi ca

Mùa Thu trong thi ca


Nguyên Trần

Hôm nay Trời đã vào Thu với màu thê lương ảm đạm, với gió heo may se sắt lạnh lùng và những chiếc lá vàng nhẹ rơi bỏ lại thân cây trơ trọi não nề. Nhắc đến mùa Thu, có lẽ trong chúng ta không ai không nhớ đến bài tập đọc “ Tôi đi học” của Thanh Tịnh trong tập truyện “ Quê Mẹ”. Bài đoản văn bất hủ đã làm bao cô cậu học trò rung động bàng hoàng mà tôi xin ghi ra đây một đoạn để chúng ta cùng chia xẻ:


“ Hằng năm cứ vào cuối Thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại náo nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường.
...........................................................................................................................
Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường nầy tôi đã quen đi lại nhiều lần nhưng lần nầy tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học. “


Trong bốn mùa của thiên nhiên vũ trụ, có lẽ mùa Thu làm cho con người bâng khuâng hoài cảm nhiều nhất và là nguồn cảm hứng bất tận cho người nghệ sĩ. Chả thế mà từ ngàn xưa cho đến nay đã có biết bao nhiêu vần thơ điệu nhạc nói về mùa Thu.


1) THU VÀ THƠ
Hình ảnh gắn liền với mùa Thu nhất có lẽ là chiếc lá vàng , từ đó ta có những vần thơ tuyệt vời cho lá Thu như 4 câu thơ dưới đây trong bài “ Cây bàng cuối Thu” của nhà phù thủy thơ lục bát Nguyễn Bính :


Thu sang trên những cành bàng
Chỉ còn hai chiếc lá vàng mà thôi
Hôm qua đã rụng một rồi
Lá theo gió cuốn ra ngoài sơn thôn


Nhắc đến những bài thơ hay về Thu mà không nói đến truyện Kiều của cụ Nguyễn Du thì thật đắc tội với tiên sinh. Bàng bạc trong tập trường thi, thỉnh thoảng tiên sinh có những đoạn tả cảnh Thu thật nhẹ nhàng và thật touch như đoạn Kiều từ giã gia đình để dấn thân giang hồ:


Vi lô san sát hơi may
Một trời Thu để riêng ai một người


hoặc:
Rừng Thu từng biếc sen hồng
Nghe chim như nhắc tấm lòng thần hôn
Riêng đoạn tả cảnh chia ly giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh thì thật trác tuyệt:
Người lên ngựa kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san


hay:
Long lanh đáy nước in trời
Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng
Nhà thơ Tản Đà cũng đã viết về lá vàng :
Trận gió thu phong rụng lá vàng
Lá rơi hàng xóm lá bay sang


Đến đây tôi có một sự thắc mắc là cây phong (maple) mọc nhiều nhất ở Canada, và cũng có ở Trung Hoa là bối cảnh của truyện Kiều, như vậy cụ Nguyễn Du đưa rừng phong vào thơ của cụ thì còn hiểu được chứ thi sĩ Tản Đà viết về lá phong thì tôi không biết là Việt Nam ta có cây phong hay không? Hoặc giả cây phong chỉ có ở một vùng nào đó mà thi sĩ biết được.


Thu về đem nỗi buồn man mác cho lòng người , gió Thu se lạnh gợi bao niềm nhớ thương như tâm tình của Hồ Dzếnh trong “ Màu Thu năm ngoái:


Trời không nắng cũng không mưa
Chỉ hiu hiu rét cho vừa nhớ nhung
Chiều buồn như mối sầu chung
Lòng êm nghe thoảng tơ chùng chốn xa


Riêng Lưu Trọng Lư đã ru hồn người trôi nổi phiêu bồng trong rừng Thu ngập lá với bài thơ nổi tiếng “ Tiếng Thu”:
Em không nghe mùa Thu
Dưới trăng mờ thổn thức
........................................
Em không nghe rừng Thu
Lá Thu kêu xào xạt


Không những thế , nhà thơ còn phong phú hóa từ ngữ Việt Nam qua 2 câu cuối:
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô


Từ đó, nhóm chữ “ con nai vàng ngơ ngác “ đã đi vào kho tàng ngôn ngữ Việt Nam bằng những bước nheï nhaøng . Có chàng trai nào mà không khoái vớt được “con nai vàng ngơ ngác”trừ phi là các đấng thái giám. Ở Thủ Đức ngày xưa có quán nhậu nổi tiếng tên là “ Con nai vàng ngơ ngác” mà Thầy Chú Sài Gòn kéo nhau tới ào ạt với hi vọng bắt nai nhưng nai đâu không thấy, chỉ thấy toàn thứ “giả nai” bắt địa thật kỹ.


Mùa Thu cũng là mùa tan tác chia ly như tiếng thổn thức của nữ sĩ TTKH một thời gây sôi nổi dư luận :
Tôi sợ chiều Thu phớt nắng mờ
Chiều Thu hoa đỏ rụng chiều Thu
Gió về lạnh lẽo chân mây vắng
Người ấy bên sông đứng ngóng đò
( Hai sắc hoa ti- gôn)


Cũng trong nỗi hoài cảm sầu ly biệt, Nguyễn Gia Linh đã dệt nên những vần thơ lục bát buồn man mác:
Ai hay ai biết đặng nào
Người đi từ độ Thu vào lòng tôi
Hoa lòng chưa nở làn môi
Đã tan theo khói đã rơi vào sầu
(Tâm tình mùa ly biệt)


Trong nổi bâng khuâng nhớ nhà dưới trời Thu hiu quạnh, thi sĩ Đinh Hùng đã gởi tâm tình qua bài thơ “ Bài hát mùa Thu” réo rắt như một nhạc khúc trữ tình lãng mạn:
Hôm nay có phải là Thu
Mấy năm xưa đã phiêu du trở về
Cảm vì em bước chân đi
Nước nghiêng mặt ngọc lưu ly phớt buồn
Ai về xa mái cô thôn
Một mình trông khói hoàng hôn nhớ nhà


Ở xứ Bắc Mỹ xài toàn bếp gas bếp điện thì làm gì có khói hoàng hôn nhưng sao trong lòng chúng ta luôn luôn:
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà
Phải không các bạn?


Nữ sĩ Ngô minh Hằng cũng có những giây phút chạnh lòng nhớ những mùa Thu xưa trên quê hương yêu dấu:
Lại một mùa Thu , Thu viễn phương
Hồn Thu se lạnh giấc vô thường
Đêm nay tròn lắm trăng Thu sáng
Nhưng sáng sao bằng trăng cố hương
( Trăng thơ)


Thi sĩ Thế Lữ cũng nhiều lần cảm khái với Thu:
Rồi có khi nào ngắm bóng mây
Chiều Thu đưa lạnh gió heo may
Dừng chân trên bến sông xa vắng
Chạnh nhớ tình tôi trong phút giây
(Giây phút trạnh lòng)


Mưa Thu phơn phớt nhẹ nhàng như giọt lệ đất trời đưa kiếp nhân sinh vạn vật vào cõi mông lung huyền ảo mà Trần Huyền Trân đã diễn tả qua bài “ Ngõ trúc (Thu )”
Mưa bay trắng lá rau tần
Thuyền ai bốc khói xa dần bến mưa
Người về khép lại song thưa
Để rêu ngõ trúc tương tư lá vàng


Cũng ngay trong mùa Thu , nhà thơ Quách Tấn đã ghi lại nỗi cảm xúc khi đọc bài “ Phong kiều dạ bạc “ của Trương Kế:
Trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng
Thu sông Xích Bích nguyệt mơ màng
Bồn chồn thương kẻ nương song bạc
Lạnh lẽo sầu ai rụng giếng vàng
( Đêm Thu nghe quạ kêu)


Mùa Thu tự cổ chí kim, từ Đông sang Tây đều tượng trưng cho những nỗi buồn bàng bạc, những cuộc chia ly ngậm ngùi. Ta hãy ttưởng thức một đoạn thơ của Cung Trầm Tưởng viết về “ Mùa Thu Paris”:
Mùa Thu Paris
Trời buốt ra đi
Hẹn em quán nhỏ
Rưng rưng rượu đỗ tràn ly

Mùa Thu đêm mưa
Phố cũ hè xưa
Công trường lá đỗ
Ngóng em kiên khổ phút giờ


Hình như trời sinh ra mùa Thu để cho vạn vật tiêu điều ủ rũ, cho thế nhân lạc lõng u hoài . Đã thế, qua lăng kính đau thương chán nãn, Hàn mặc Tử thấy Trời Thu càng não nề chua xót hơn:
Đây bãi cô liêu lạnh hững hờ
Với buồn phơn phớt vắng trơ vơ
Cây gì mảnh khảnh rung cầm cập
Điềm báo Thu vàng gầy xác xơ
(Cuối Thu)


Thu về trong đôi mắt người thương lãng đãng xa vời và một thoáng buồn trong không gian nhạt nhòa khói sương đã để lại cho Nguyên Trần khoảng trống vắng mênh mông:
Nghe chớm Thu về trong mắt em
Nghiêng nghiêng liễu rũ tóc buông mềm
Thì thầm gió nhẹ lay hàng giậu
Từng lá Thu buồn rơi thoáng êm
(Hoài Thu)


Mùa Thu quả thật là buồn, buồn trong lòng người cho đến vạn vật cỏ cây, tiêu điều xác xơ từ thành thị đến làng quê và hắt hiu tan tác đến cả sơn khê núi rừng . Từ mối hoài cảm đó, ta hãy để tâm tư hòa nhập với “ Thu rừng “ của Huy Cận:
Bỗng dưng buồn bã không gian
Mây bay lũng thấp giăng màn âm u
Nai cao gót lẫn sương mù
Xuống rừng nẻo thuộc nhìn Thu mới về
Sắc trời trôi nhạt dưới khe
Chim đi lá rụng, cành nghe lạnh lùng
Sầu Thu lên vút song song
Với cây hiu quạnh với lòng quạnh hiu
Non xanh ngây cả buổi chiều
Nhân gian e cũng tiêu điều dưới kia.


Đến đây tôi tự hỏi không hiểu vì cảnh sắc mùa Thu tự nó đã buồn hay vì tâm hồn mẫn cảm của thi nhân là “thú đau buồn “ sao mà hầu hết bài thơ mùa Thu nào cũng buồn tê tái. Chỉ có một thi nhân duy nhất với ba bài thơ diễn tả mùa Thu chẳng những không bi quan yếm thế mà còn vui vẻ yêu đời , mang triết lý sống rất là relax. Đó là cụ Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến với ba bài thơ : Thu Điếu, Thu Ẩm và Thu Vịnh mà chúng ta đã từng phải học thuộc lòng ở bậc Trung học.



Ngày xưa, khi đọc truyện “ The last leaf” của nhà văn O’Henry, chắc các bạn cũng như tôi không khỏi bùi ngùi thương cảm chàng họa sĩ bao la tình người cho nên dù dưới trời rét căm căm vẫn cố trèo lên cây trong đêm tối để vẽ cho được chiếc lá Thu cuối cùng với từ tâm là cho Sue niềm tin mà sống sót để rồi chàng ... đã vĩnh viễn ra đi vì rét lạnh. Ôi ! Tình nhân loại sao mà cao đẹp quá ! Bây giờ, xin các bạn “rán “ đọc bài thơ thuộc loại cóc nhái ễnh ương chàng hiu tôi vừa mới viết trong khung trời mờ ảo nhạt nhòa của mùa Thu 2003 :

THU SẦU
Tôi đi đường ngập lá vàng rơi
Nghe tiếng thời gian đếm tuổi đời
Có phải vì Thu mà nắng nhạt
Chân mây bàng bạc biển mù khơi
Không gian lơ lững treo hè vắng
Khói sóng chiều Thu nhuộm đất trời
Ai có về nơi xưa chốn cũ
Hỏi Thu còn xõa tóc buông lơi
*
* *
Hỏi Thu còn xõa tóc buông lơi
Hay đã ra đi chẳng một lời
Trôi nổi sầu đau trong quạnh quẽ
Bóng chim tăm cá biệt trùng khơi
Nghìn năm Thu vẫn gieo thương nhớ
Lộng gió heo may tóc rối bời
Nhìn lại hai phương trời cách biệt
Tưởng chừng đâu đó nét hương môi .
Nguyên Trần

MÙA XUÂN TRONG THƠ VIỆT NAM

MÙA XUÂN TRONG THƠ VIỆT NAM
Có một nhà thơ Hung-ga-ri đã từng nói, đại ý : “Năm tháng cứ trôi đi theo qui luật của muôn đời và cùng với nó tất cả sẽ đổi thay. Duy chỉ có cái đẹp là vĩnh cửu, là mãi mãi trường tồn, và nhà văn, nhà thơ là người dẫn đường vào xứ sở của cái đẹp”, đưa tâm hồn ta vào thế giới tràn đầy tình yêu thiên nhiên và niềm tin vào cuộc đời. Từ bao giờ đến bây giờ, thơ văn vẫn là “cây đàn muôn điệu” của cuộc sống, nó di dưỡng tâm hồn ta, tắm
mát tâm hồn ta bằng một nguồn nước trong mát vô tận của non nước, của tình yêu cuộc sống của con người “trang trải với muôn nơi”. Trong nguồn nước văn chương ấy, mùa xuân là dòng suối cảm xúc dồi dào “nâng hồn ta bằng muôn cánh sóng”, để lại sâu thẳm của lòng người những rung cảm đẹp đẽ khó quên.
Việt Nam đất nước thân yêu của chúng ta đã trải hơn bốn ngàn năm lịch sử, núi sông này đã có biết bao phút thăng hoa ngời chói. ấy là mùa xuân bất diệt, là cội nguồn của tình yêu quê hương, cỏ cây hoa lá. Là người Việt Nam ai mà chẳng rung động trước mùa xuân tươi đẹp bởi vì con người Việt Nam vô cùng nhạy cảm, yêu thiên nhiên và yêu đời mãnh liệt. Cho nên, các thi sĩ viết về mùa xuân bao giờ cũng bắt đầu bằng tình yêu quê hương đất nước nồng nàn, yêu cái đẹp của muôn đời, của trời đất, của tâm hồn. Phải vậy chăng nên đọc thơ xuân dù ở thời đại nào, hoàn cảnh nào, cảm nhận của chúng ta đầu tiên là tình yêu cuộc sống. Ta chợt nhận ra từ bao giờ nhỉ, tình yêu ấy đó tràn vào lòng ta, chạm vào “dây đàn tâm hồn”, vang lên âm điệu thiết tha, sâu lắng. Dù đó hơn năm thế kỉ trôi qua, dù thời gian đã phủ mờ lên tất cả, nhưng những vần thơ Nguyễn Trãi vẫn cho ta gặp mùa xuân thôn quê Việt Nam, vẫn giữ lại cho đời nét đẹp xuân vĩnh cửu. Trong thơ văn cổ, các thi sĩ thường “họa” mùa xuân bằng những nét chấm 2000 phá. Đến với thơ xuân Ức Trai là ta đến với một “Bến đò xuân đầu trại”, một “Cuối xuân tức sự” tươi đẹp, pha chút buồn thời thế sâu lắng. Người đọc đời sau say đắm vẻ đẹp của một “bức tranh thuỷ mặc” :
Cỏ xanh như khói bến xuân tươi
Lại có mưa xuân nước vỗ trời
Quạnh quẽ đường đồng thưa vắng khách
Con đò gối bãi suốt ngày ngơi
(Bến đò xuân đầu trại)
Hồn thơ Nguyễn Trãi vốn dạt dào tình yêu thiên nhiên, gần gũi với những miền thôn dã nên mùa xuân trong thơ ông bao giờ cũng đẹp, một vẻ đẹp chân chất mộc mạc trong sáng. Cảnh đồng quê với những thảm cỏ xanh tươi, những làn mưa bụi đan giăng khắp trời như tỏ như mờ, như thực như mơ, những đường đồng vắng lặng, bến sông êm đềm, con đò quê nhàn nhã. Cảnh vật tĩnh lặng đến vô cùng, tưởng như đất trời, cỏ cây núi sông đã và đang lắng sâu vào tâm cảm của thi nhân. Có chút động của “nước vỗ trời” nhưng cái động ấy lại là thể hiện cao độ cái tĩnh của tạo vật cũng giống như tiếng ngỗng của mùa thu trong thơ Nguyễn Khuyến sau này vậy. Có dấu vết của con người nơi đồng ruộng, bến sông có nghĩa là cuộc sống vẫn ẩn hiện đâu đó trong bức tranh cảnh vật, nhưng dẫu sao vẫn chỉ là dấu ấn, có khác gì “lác đác bên sông chợ mấy nhà” trong thơ Bà Huyện Thanh Quan ba trăm năm nữa. Phải chăng người xưa muốn con người mờ đi, cảnh vật hiện ra rõ nét hơn vì “Thiên nhiên bao giờ cũng là chuẩn mực của cái đẹp”. Nói như vậy cũng có nghĩa là khẳng định thi nhân xưa “mở hồn đón lấy những rung động của cuộc đời” để lòng mình hoà vào thiên nhiên, giao hoà với mùa xuân bất diệt. Bức tranh thiên nhiên quê hương mộc mạc, đậm đà của Nguyễn Trãi đã giúp ta hiểu hơn tâm hồn của người xưa, về tình yêu quê hương, tạo vật thiết tha sâu sắc. Ta đón nhận những vần thơ ấy, trân trọng những bức tranh ấy và tâm hồn ta như lắng xuống, như đắm sâu hơn trong cái đẹp tuyệt mĩ của thiên nhiên. Thơ xuân của Nguyễn Trãi tĩnh tại nhưng tràn đầy sức sống, có pha chút buồn thế sự của người mà tâm hồn “cuồn cuộn nước triều đông”. Tuy nhiên, niềm tin, vui vào cuộc sống vẫn đượm trong thơ ông. ông đắm mình với những phút giây tĩnh lặng ở quê hương để chiêm ngưỡng cảnh xuân. Đọc thơ xuân Nguyễn Trãi, tâm hồn ta, trái tim ta bất chợt rung lên mãnh liệt trước vẻ đẹp đến không ngờ của cảnh “trong tiếng cuốc kêu xuân đã muộn, đầy xuân mưa bụi nở hoa xoan” (Cuối xuân tức sự).Phải có một tâm hồn giao hoà cùng thiên nhiên và phải có tình yêu cuộc sống như Ức Trai mới có thể nghe bước chuyển vô hình của thời gian, mới nắm bắt được phút chuyển đổi mong manh giữa hai mùa xuân sang hạ qua một tiếng cuốc xa xăm vọng vào “phòng văn”, đọng lại hồn thi sĩ. Câu thơ có cái động ở bề nổi nhưng vẫn có cái tĩnh ở chiều sâu. Đó là cái lặng im của nhà thơ đón chờ tiếng vọng của cuộc đời và trong phút thăng hoa của cảm xúc, bằng tất cả sự rung động mãnh liệt trước mùa xuân, Nguyễn Trãi đã ghi lại hình ảnh tuyệt đẹp: “Đầy sân mưa bụi nở hoa xoan”. Đọc câu thơ, tự nhiên ta thấy lòng mình xốn xang kì lạ! Mùa xuân đẹp và đáng yêu, mùa xuân tươi xinh và gần gũi biết nhường nào. Nguyễn Trãi đã chọn hoa xoan để nói về mùa xuân giữa muôn ngàn hương hoa khác, đã chọn sắc tím để điểm vào bức tranh xuân của mình một nét mong manh nhưng vĩnh hằng của cái đẹp. Cảm ơn thi sĩ đã cho ta thưởng thức những nét đẹp rất thôn quê mà cũng rất độc đáo, bồi dưỡng ta thêm tình yêu quê hương. Ta cũng như lây niềm xúc động của nhà thơ và trân trọng, nâng niu những vần thơ xuân đã trở thành “trầm tích” trong tâm hồn người dân đất Việt. Nếu như trong văn thơ cổ, mùa xuân được ghi nhận ở cái đẹp thiên nhiên thì đến với mùa xuân trong thơ ca lãng mạn (1930 - 1945) ta bắt gặp “mùa xuân con người”, ta đón nhận ở đó niềm rung cảm của các nhà thơ trong mùa xuân cuộc đời, mùa xuân của riêng họ. Cuộc sống và mùa xuân được cảm nhận, thể hiện ở những nét khác nhau. “Mùa xuân chín” của Hàn Mặc Tử, “Mùa xuân xanh” của Nguyễn Bính, nét “Xuân hồng” của Xuân Diệu là những ấn tượng khó phai về một cái “Tôi” mở hồn đón nhận và ghi bắt những nét rất tinh vi, điển hình của mùa xuân xứ sở. Bên cạnh nỗi buồn của những nhà thơ này, mùa xuân là một cái gì đó lắng sâu nơi “đáy hồn nhân thế”, là một nỗi niềm tìm đến với thiên nhiên nhưng lại biến thiên nhiên thành hồn mình. Con người là chuẩn mực của cái đẹp. “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”. Mùa xuân đến với mọi người và làm xao động tất cả. Các nhà thơ xưa thường gửi gắm tâm sự vào thiên nhiên, đến với mùa xuân để gặp gỡ bạn lòng, đến với người tri kỉ, còn thi nhân hiện đại đến với mùa xuân như bắt đầu cuộc hành trình đi tìm cái đẹp, cái cao cả của cuộc đời đầy tục lụy, thăng trầm, đến với mùa xuân để hội ngộ với tâm hồn độc giả, để thể hiện mình. Mùa xuân! Ta đến với “Mùa xuân chín”, ta hoà mình vào mùa xuân dâng hương cho đời. Mùa xuân chín ở cảnh vật, ở tâm hồn và có lẽ cả ở niềm trắc ẩn, ở tình yêu nồng thắm với con người của Hàn Mặc Tử :
Trong làn nắng ửng khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lí. Bóng xuân sang
Những cảm xúc rất tinh vi, những nét xuân rất nhẹ, rất nhanh và cũng muôn phần sayđắm. Làn nắng xuân hồng “ửng” lên hoà quyện vào làn “khói mơ” tạo nên sự tương phản nghệ thuật giữa mảng sáng và mảng tối, giữa đậm và nhạt, giữa thực và hư. Đọc câu thơ ta bất giác liên tưởng đến cái “nắng hàng cau nắng mới lên” ở Đây thôn Vĩ Giạ. Hình như nắng mai ở “Mùa xuân chín” cũng là cái nắng mới ửng lên hồng tươi và phảng phất chất huyền thoại. Mùa xuân duyên dáng, mùa xuân đậm đà bản sắc dân tộc. “Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng”, chỉ “lấm tấm” thôi, như vết chân của “con nai vàng ngơ ngác” cùng đến với mùa xuân, cùng chín với cỏ cây, với nắng ửng, với khói mơ. Một từ “tan” như làm đoạn thơ có cái động rất khẽ khàng để rồi cùng tiếng động sột soạt của gió trêu tà áo biếc. Từ “biếc” ở cuối câu làm cho cảnh vật mướt hơn, đẹp hơn. Không phải màu xanh, cũng không phải màu tím mà chỉ có cái “biếc” tràn đầy sức sống. Và Hàn Mặc Tử bất chợt ghi lại được một hình ảnh độc đáo : “Bóng xuân sang” trên giàn hoa lí. Mới chỉ có cái bóng thôi mà tình xuân đó ngất ngây, ngập tràn muôn nẻo ấy là nẻo đường tâm hồn của nhà thơ. Trong nhiều bài thơ xuân của thơ ca Việt Nam, “Mùa xuân chín” trong thơ Hàn Mặc Tử có những nét riêng, không bị lẫn vào bao nhiêu nét đẹp của mùa xuân khác. Đó là những chùm âm thanh mà nhà thơ đã nghe, đã cảm nó bằng tất cả sự rung động của tâm hồn và trái tim khối óc rất tài hoa nhân hậu của mình. Khổ thơ đầu là sự chiếm lĩnh hoàn toàn của mùa xuân. Ba khổ thơ sau, trong bức tranh xuân ấy, bầu trời xuân chín ấy, là cuộc sống con người. Tiếng ca của “bao cô thiếu nữ” mang khát vọng sống, khát vọng tình yêu và ở sâu thẳm của những lời ca ấy, Hàn Mặc Tử thấy cả tương lai của họ. Những vui, buồn mà họ sẽ trải trong đời. Mùa xuân chín của thiên nhiên sẽ tuần hoàn, còn mùa xuâ 2000 ;n của đời người ngắn ngủi trôi qua không trở lại, không đủ để những cô gái kia hưởng trọn niềm vui thiếu nữ. Hàn Mặc Tử rối lòng khi nghĩ “Ngày mai trong đám xuân xanh ấy / Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi”. Niềm trắc ẩn như lan sang cả người đọc, khiến cho ta sững sờ, nhận ra chân giá trị của cuộc sống thực này. Cái quí giá nhất của một đời người là phải sống sao để cho không ân hận vì đã để cho mùa xuân, tuổi trẻ qua đi vô ích, vô nghĩa. Trong nỗi niềm trào dâng, trước thực tại, khi nghe tiếng ca vắt vẻo ở lưng chừng núi kia, khát vọng cháy bỏng về tình yêu và hạnh phúc, nhà thơ chợt nhớ quá khứ, nhớ về một bờ sông cát trắng, nhớ cái nắng chang chang và nhớ một người con gái ngày xưa :
Khách xa gặp lúc mùa xuân chín
Lòng trí bâng khuâng chợt nhớ làng
Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?
Mùa xuân thiên nhiên chỉ là cái bóng, mùa xuân tâm hồn mới thực là xuân. Hàn Mặc Tử bỗng nhớ quê hương trên bước đường lữ thứ. Tâm hồn người Việt Nam bao giờ vẫn vậy, tình nghĩa và thuỷ chung vô cùng. Sẽ còn đọng mãi trong ta hình ảnh một bờ sông trắng với mùa xuân chín của đất trời, của tâm hồn người Việt Nam. Đó chính là cái đẹp của lòng người trong mùa xuân bao la của trời đất, nó nhắc nhở con người phải sống hết mình, hãy để tâm hồn mình chan hoà với tất cả.
Mùa xuân trong thơ ca cách mạng cho ta gặp cái đẹp của đất nước, của Mùa Xuân Cách Mạng trên bước đường xuân ngàn dặm. “Rằm tháng giêng” của Hồ Chí Minh, “Bài ca mùa xuân 61” của Tố Hữu đã góp tiếng nói riêng, sắc màu riêng cho nền thi ca dân tộc về mùa xuân. Một dòng sông xuân, một con thuyền trăng ngân, trời xuân, nước xuân, hoa lá xuân, đất nước bước vào xuân vĩnh cửu. Trên dòng sông mênh mang, giữa mùa xuân bát ngát và hứa hẹn nhiều chiến thắng cho ngày mai, Bác Hồ bàn luận việc quân để cho mai đây một ngày không còn xa nữa “Tổ Quốc bay lên bát ngát mùa xuân”.
Mùa xuân Cách Mạng, mang vẻ đẹp riêng, nơi đó con người và thiên nhiên gắn bó với nhau bởi một cái gạch nối hữu cơ là độc lập tự do cho một đất nước vừa thoát khỏi đêm trường nô lệ lại phải cầm ngay súng để bảo vệ nền hoà bình non trẻ. Dân tộc Việt Nam với những con người bao đời nay “Lưng đeo gươm, tay mềm mại bút hoa” đang cùng vươn tới vạn xuân. 2000 Mùa xuân sẽ ở lại vĩnh viễn trong cuộc đời này. Trong bản hợp xướng mùa xuân ấy, mỗi con người, mỗi tâm hồn đều ước ao mình làm được một “mùa xuân nho nhỏ” trong mùa xuân lớn lao của Tổ Quốc thân yêu, cùng hát vang những bài ca của con người là chủ nhân của đất nước, của cuộc sống. Đến với thơ xuân từ nhiều nẻo đường, trên vô vàn cung bậc, có lẽ chúng ta cũng thấy ở đó, học được ở đó bao điều bổ ích cho cuộc đời mới hôm nay. Mùa xuân kia trong cuộc sống này giúp ta nhận ra phần sâu thẳm của lòng mình, cái đẹp của cuộc đời để vươn tới tầm cao của thời đại mà không quên những rung cảm, tình yêu tha thiết với con người. Đọc những vần thơ xuân, đồng điệu được với tâm hồn thi nhân, ta mới hiểu thế nào là sống đẹp, mới hiểu hơn câu nói của nhà thơ Hung –ga-ri và hơn lúc nào hết, ta cảm thấy “cuộc đời xứng đáng để tin yêu”.

Vầng trăng trong thi ca

Vầng trăng trong thi ca (Ths. Lê Tấn Thích)
1. Không biết tự bao giờ, ánh trăng đã là nguồn cảm hứng bất tận muôn đời của các thi sĩ văn nhân. Có thể gọi đấy là mối lương duyên suốt đời mà ông tơ bà nguyệt đã dành cho họ. Trong cảm quan của người nghệ sĩ, trăng không đơn thuần là nguồn sáng trong đêm mà đã trở thành một hình tượng nghệ thuật độc đáo. Ở đó, nó đã trở thành một âm hưởng đa thanh xoáy sâu vào tâm hồn có sức ám ảnh, khơi gợi cho người đọc nhiều xúc cảm về chiến tranh và hòa bình, hạnh phúc và khổ đau, quê hương và gia đình, tình yêu và thân phận con người...

2.Theo quan niệm của người xưa trong văn học trung đại, con người là một "tiểu vũ trụ" trong lòng "đại vũ trụ", con người và đất trời có thể hòa hợp với nhau trong mối tương cảm, tương thông (thiên - nhân tương dữ, thiên - nhân tương cảm). Theo đó, trăng trong văn học trung đại không huyền bí xa lạ như trong truyện cổ dân gian (nữ thần Mặt trăng), cũng không bất biến như trong ca dao dân ca (trăng bao nhiêu tuổi trăng già, núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non) của văn học dân gian mà gần gũi, thân thiết với con người. Mặt khác, trăng - với lí tính khách quan của nó - là mang đến ánh sáng mát mẻ huyền diệu cho con người và cuộc đời trong đêm đen, khi bước vào địa hạt thơ ca đã trở thành một hình tượng nghệ thuật thực sự, được miêu tả khá độc đáo và sắc nét. Ở đây, nó đã được các nhà thơ vận dụng trong trường liên tưởng một cách tinh tế, sáng tạo. Có thể đấy là tuổi xuân, hạnh phúc, là vẻ đẹp, niềm vui, là nỗi buồn cô đơn tuyệt vọng, đôi khi là một người bạn, người tình yêu dấu...

2.1. Đọc thơ các nhà thơ trung đại, ta thường chứng kiến cảnh những người chinh phụ, cung nữ, thục nữ hay ngồi một mình vọng trăng, thưởng nguyệt trong đêm dài. Trăng ở đây không phải là "trăng viên mãn" tròn đầy, "trăng vàng trăng ngọc" mà là "trăng tàn", "trăng khuyết", "trăng xẻ làm đôi"... Trăng ở đây cũng chính là cuộc đời nhiều dở dang bất hạnh của họ. Đó là cảnh nữ sĩ Hồ Xuân Hương trong đêm khuya thanh vắng, một mình uống rượu mong giải buồn nhưng say rồi lại tỉnh, tỉnh ra lại càng buồn hơn. "Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn" (Tự tình II) cứ như nhắc nhớ thi nhân rằng tuổi trẻ, tình yêu đang trôi qua mà nhân duyên chưa trọn vẹn. Đó là cảnh nàng Kiều khắc khoải cô đơn trong đêm trường lạnh giá khi chia tay với Thúc Sinh - cũng là vĩnh viễn chia li với hạnh phúc "chỉ ấm trôn kim" mà nàng vừa có được :
"Vầng trăng ai xẻ làm đôi/ Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường" (Truyện Kiều - Nguyễn Du). Đó cũng là cảnh những người cung nữ, chinh phụ trong những đêm dài xa vắng người thương, nhìn trăng hoa giao hòa quấn quýt : "Hoa giãi nguyệt, nguyệt in một tấm/ Nguyệt lồng hoa hoa thắm từng bông/ Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng" (Chinh phụ ngâm khúc - Đoàn Thị Điểm dịch) mà thức dậy những khát khao mãnh liệt về hạnh phúc ái ân chồng vợ - khát vọng đầy tính nhân bản, nhân văn.

Có thể nói, trăng hiện lên qua cái nhìn của những người phụ nữ đa tài, đa tình và cũng lắm đa truân này không có cái lãng mạn, thơ thới, ấm áp giao hòa mà lúc nào cũng vàng rười rượi, cũng "lạnh lẽo buốt xương da", cũng u ám hắt hiu và lắng đượm vẻ buồn - bởi ngoại cảnh đã là tâm cảnh. Trăng gợi nhớ hạnh phúc, niềm vui ở họ dẫu có cũng chỉ thảng hoặc thoáng qua trong giây lát, không làm vơi đi vết thương lòng mà càng khắc sâu thêm nỗi tủi hổ bẽ bàng của phận hẩm duyên ôi. Nó như hơi cháo hành của Thị Nở thoang thoảng hiện ra trong lúc Chí Phèo rơi vào cơn tuyệt vọng cùng cực của tấn bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người. Nó như chiếc lá Diêu bông của Hoàng Cầm hiển hiện đấy mà xa vời đấy. Nó hiện ra như để trêu ngươi họ, chọc tức họ, đẩy họ vào nỗi đau đớn tột cùng. Nhìn "nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng" quấn quýt mà lòng ngổn ngang những khát vọng, bộn bề những nỗi đau. Ngẫm lại thấy mình "loay hoay trong cảnh cô độc giữa đất trời vô tình" mà cảm thương cho thân phận mình" : "Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng/ Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau" (Chinh phụ ngâm khúc - Đoàn Thị Điểm dịch). Ánh trăng. Khát vọng và tuyệt vọng. Cái chập chờn không biên giới giữa thực và mộng, giữa hạnh phúc và khổ đau, niềm vui và nỗi buồn, đoàn viên và li biệt. Càng kiếm tìm càng lẩn trốn. Càng đến gần càng lùi xa để cho nỗi lòng khát khao hạnh phúc, tình yêu của những người phụ nữ đa tài, đa tình, đa truân này lâm vào vĩnh viễn đau thương.


Có thể thấy, trong các tác phẩm văn học thời kì này, ánh trăng có một vị trí đặc biệt quan trọng trong việc thể hiện tâm trạng của các nhân vật trữ tình. Nó đã trở thành một thứ không gian nghệ thuật "gắn liền với ý niệm về sự cảm nhận về giá trị của con người ..., là một hiện tượng tâm linh nội cảm chứ không còn là hiện tượng địa lí, vật lí..." (1). Nó đã được nội tâm hóa rõ rệt, mang đậm màu sắc tâm trạng và thấm đượm tình cảm con người.

2.2. "Có những ngày tuyệt vọng cùng cực", các thi nhân - Nho sĩ, chí sĩ yêu nước - trở về làng quê với nỗi lòng giông bão mang theo tấn bi kịch của thời đại in dấu trong từng sáng tác của mình. Ta thường bắt gặp cảnh các thi nhân hay ngồi một mình trong cô tịch của đêm dài. Ẩn tình của những ẩn sĩ bất đắc dĩ. Một tấc lòng ưu ái với dân, tận trung với nước đã không còn hợp thời thế. "Đời loạn đi về như hạc độc, tuổi già hình bóng tựa mây côi" (Nguyễn Khuyến). Tuổi già, sợ cô độc, trốn tránh cô độc, càng cô độc. Duy chỉ có vầng trăng kia như người bạn cố tri đã không dửng dưng trước sự cô quạnh đơn chiếc của thi nhân trong lúc lao lung này. Trăng đã chủ động đến với thi nhân để làm dịu đi cái tối tăm trong "năm gian nhà cỏ", "ngõ tối đêm sâu " để tô điểm cho nét thu thêm huyền ảo : "Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt/ Làn ao lóng lánh bóng trăng loe" (Thu ẩm- Nguyễn Khuyến) và cũng là để xoa dịu nỗi cô đơn trầm mặc của một nỗi lòng lắm những ưu tư thời thế : "Nước biếc trông như từng khói phủ/ Song thưa để mặc bóng trăng vào" (Thu vịnh - Nguyễn Khuyến). Cũng như vậy, thi nhân đến với trăng để tìm một sự lãng quên, nhưng nào có quên được. Lòng thi nhân còn quá bận rộn với sự đời. Càng nhìn trăng càng xót xa đau đớn mà chạnh nỗi ai hoài cố quốc : "Năm canh máu chảy đêm hè vắng/ Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ/ Có phải tiếc xuân mà đứng gọi/ Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ" (Cuốc kêu cảm hứng - Nguyễn Khuyến) lại càng tủi nhục cho phận kẻ làm trai không cứu được nước, giúp được dân : "Xuân ơi xuân, xuân có biết cho chăng/ Thẹn cùng sông, buồn cùng núi, tủi cùng trăng/ Hai mươi năm lẻ đã từng chua với xót" (Bài ca chúc Tết thanh niên - Phan Bội Châu). Điều đó đã cho ta thấy ánh trăng trong văn học trung đại không chỉ đơn thuần là ánh trăng của vũ trụ thiên nhiên mà còn chính là tấm gương phản chiếu đời sống nội tâm phong phú, phức tạp của các nhân vật trữ tình. Nó đã trở thành "vầng trăng nghệ thuật... làm say mê lòng người không chỉ vì cái ánh sáng huyền diệu và vẻ đẹp lung linh mà chính là ở cái tình bao la của nó đưa người đọc trở về giao hòa với thiên nhiên vũ trụ và trở về với quan niệm thẩm mĩ mang nét đẹp nhân văn của người phương Đông (thiên nhân tương dữ) đã có tự ngàn xưa" (2).

3. Từ những năm đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945, xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi lớn lao. Sự gặp gỡ, giao lưu văn hóa phương Tây đã mang lại những biến đổi sâu sắc trong ý thức và tâm lí của con người. Đúng như Hoài Thanh nói : "Tình chúng ta đã đổi mới, thơ chúng ta cũng phải đổi mới"(3). Sự thức tỉnh của ý thức cá nhân, của khát vọng "cởi trói" đã mang lại một diện mạo mới cho văn học thời kì này. Ánh trăng đến đây không còn được miêu tả theo lối ước lệ tượng trưng như thời kì trước mà đã được các tác giả thổi hồn vào làm cho nó thực sự trở thành một chủ thể mang một sức sống mới, một màu sắc cá thể hóa rõ rệt, cao độ. Trăng cũng như người, biết chờ đợi, hẹn hò, có tâm trạng vui, buồn, cô đơn khi xa cách... Trăng ở đây đã là em, là nàng, là biểu tượng của cái đẹp, là nguồn cảm hứng khơi gợi sáng tạo bất tận của các thi nhân. Dễ thấy trong thơ Xuân Diệu bàng bạc một thế giới ánh trăng lung linh huyền ảo với đủ mọi hình hài dáng vẻ và trạng thái cảm xúc. Đó là trăng ngà, trăng ngần, trăng sáng, trăng xa, trăng mộng, trăng vú mộng, trăng tàn, trăng lạnh... Trăng cơ hồ đã trở thành hóa thân của nhà thơ - một tâm hồn cô đơn muốn tìm chỗ ẩn tựa nương mình : "Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh/ Trăng thương trăng nhớ hỡi trăng ngần" (Nguyệt cầm), nhưng nào có thoát được, "càng lên cao càng thấy lạnh", càng trốn chạy lại càng buồn mà sinh ra những giọt trăng, giọt đàn nước mắt : "Đàn buồn đàn lạnh ôi đàn chậm/ Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân" (Nguyệt cầm) để càng cô đơn và càng nhớ người thương : "Trăng nhớ Tầm Dương nhạc nhớ người". Không biết có phải vì trở thành hóa thân của nhà thơ hay không mà trăng trong thơ Xuân Diệu rất nhạy cảm với bước đi của thời gian, nhất là trong những thời khắc chuyển mùa. Thu đến, thu đi là lẽ đương nhiên của trời đất, vậy mà trăng - như người con gái đẹp - buồn nỗi buồn u uẩn, se xót, lạnh lẽo, xa xôi : "Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ/ Non xa khởi sự nhạt sương mờ/ Đã nghe rét mướt luồn trong gió/ Đã vắng người sang những chuyến đò" (Đây mùa thu tới).

Trong số các nhà thơ Mới, có lẽ không ai viết về trăng nhiều và hay như Hàn Mặc Tử. Đọc thơ Hàn Mặc Tử, quả đúng như nhận xét : "Trăng, toàn trăng, một ánh trăng gắt gao... linh động lòng người. Trăng ở đây cũng ghen, cũng giận, cũng cay nghiệt, cũng trơ tráo và cũng nao nức dục tình..." (4). Trong thơ Hàn Mặc Tử, trăng không những được thi vị hóa, nhân cách hóa như nhiều nhà thơ khác mà còn được hiện thực hóa ngay trong cái không khí thi vị ấy. Trăng giăng mắc khắp cả không gian, thời gian của sự sống (Không gian dày đặc toàn trăng cả/ Tôi cũng trăng mà nàng cũng trăng - Huyền ảo). Trăng là áo quần để mặc (Áo ta rách rưới trời không vá/ Suốt bốn mùa trăng mặc vải trăng - Lang thang), là rượu để uống (Bóng Hằng trong chén ngả nghiêng)... Quan trọng hơn, trăng đã là nàng - người con gái xuân thì lơi lả (Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu/ Đợi gió đông về để lả lơi - Bẽn lẽn; Mới lớn lên trăng đã thẹn thò/ Thơm như tình ái của ni cô - Huyền ảo). Có thể nói trăng trong thơ Hàn Mặc Tử đâu còn là một khách thể mà đã trở thành một bản ngã ở trong thơ. "Nó đã hòa quyện vào từng tế bào nơi cơ thể và độ sâu thẳm của tâm linh. Nó có khả năng vỗ về, yêu đương, đối thoại như một hiện hữu người" (5). Và hơn thế, nó như một cứu cánh, một biểu tượng tuyệt mĩ mà thi nhân khát khao có được. Chẳng thế mà khi bị đày vào "lãnh cung của sự chia lìa", cái hố sâu ngăn cách của một tấm tình yêu đơn phương vô vọng, của một thân phận mặc cảm đang bị giày vò bởi thân xác đớn đau, nhà thơ ước ao trăng về như một cứu tinh, cứu chuộc, một điểm tựa duy nhất để hóa giải trạng huống đau thương : "Gió theo lối gió, mây đường mây/ Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay/ Thuyền ai đậu bến sông trăng đó/ Có chở trăng về kịp tối nay ?" (Đây thôn Vĩ Dạ). Đúng như ai đó đã nói, trăng trong thơ Hàn Mặc Tử "được kết tinh như hạt muối, vừa có vị mặn của muối, vừa có vị mặn của đời" (6).

4. "Văn học là nỗi buồn về cái đẹp¨" (Lê Ngọc Trà). Có phải vì thế mà ánh trăng trong những tác phẩm trên dù được miêu tả rất đẹp nhưng hiếm thấy để diễn tả dẫu chỉ một niềm vui, trái lại váng vất bao nỗi buồn biệt li muôn thuở. Điều này có vẻ đã thay đổi ở những tác phẩm văn học từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 trở đi. Nói như Chế Lan Viên, văn học Việt Nam đã đi "từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui". Ánh trăng từ chỗ chứng nhân cho bao nỗi buồn và nước mắt biệt li thuở nào, do vậy, đã không còn hợp thời thế mà đã mang một ý nghĩa xã hội và tư tưởng nhân sinh sâu sắc. Nếu trong thơ cổ, các nhân vật trữ tình đến với trăng khi đã chán chường thế cuộc, xem nó như là đối tượng để thở than, là liều thuốc lãng quên để vơi đi nỗi buồn cô đơn tuyệt vọng sau bao mệt mỏi, thăng trầm thì đến đây, trăng dù ở cảnh ngộ nào cũng là nguồn cảm hứng khơi dậy những xúc cảm lành mạnh, trong sáng. Trăng trong các tác phẩm thời kì này nằm trong cảm hứng bao trùm của tình yêu quê hương đất nước, có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm xúc cá nhân - cái riêng - với thế giới con người đang lao động, đấu tranh, với chủ nghĩa anh hùng cách mạng - cái chung. Cho nên dù thân thiết quá đỗi nhưng khi nhiệm vụ chưa hoàn thành thi nhân cũng không thể hoàn toàn thư thái đến với trăng : Trăng vào cửa sổ đòi thơ/ Việc quân đang bận xin chờ hôm sau (Tin thắng trận - Hồ Chí Minh) mà phải chờ xong công việc mới thanh thản đón nhận nó : "Giữa dòng bàn bạc việc quân/ Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền".

Có một điều thú vị, trong các tác phẩm văn học thời kì này, trăng dù nhiều khi không viên mãn, tràn đầy (trăng tàn, trăng khuyết) nhưng bao giờ cũng đẹp, cũng gợi lên niềm vui sống lạc quan, lí tưởng. Đó không phải là chuyện ngẫu nhiên mà do thế giới quan cách mạng của nhà thơ chi phối. Giờ đây, trăng là biểu tượng của cuộc sống thanh bình yên vui, của đất nước giàu truyền thống văn hóa dân tộc được kết tinh trong vẻ mặt của người mẹ Kinh Bắc (Lửa đèn leo lét soi tình mẹ/ Khuôn mặt bừng lên như dựng trăng - Bên kia sông Đuống - Hoàng Cầm), trong cuộc sống yên vui hòa hợp ấm áp nghĩa tình của tình quân dân cá nước (Rừng thu trăng rọi hòa bình/ Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung - Việt Bắc - Tố Hữu). Nhiều khi trăng là môi trường thử thách người lính trong những giờ phút cam go, khắc nghiệt và đồng thời cũng là đồng chí, đồng đội sát cánh bên nhau : Đêm nay rừng hoang sương muối/ Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới/ Đầu súng trăng treo (Đồng chí - Chính Hữu). Trăng ở đây không chỉ là một vật thể thiên nhiên vừa gợi yếu tố thời gian, vừa chỉ một không gian nghệ thuật trữ tình lãng mạn, đầy thi vị mà còn tượng trưng cho sự thanh bình của đất nước quê hương đồng thời còn cho thấy mục đích lí tưởng của cuộc kháng chiến : chiến đấu cho ánh trăng mãi nghiêng cười trên đỉnh núi. Qua đó cho thấy tư thế, phẩm chất của nhân vật trữ tình - người chiến sĩ - thi sĩ trong bài thơ : bình tĩnh, ung dung, lạc quan, dũng cảm, lãng mạn ngay trong cả khó khăn gian khổ.

5. Qua việc khảo sát hình tượng trăng, ta thấy được tài năng độc đáo của các nhà thơ. Mỗi vầng trăng như mỗi chiếc đinh để treo lên đó những bức tranh tâm trạng, số phận, mảnh đời của nhân vật trữ tình. Càng về sau, ánh trăng càng có thêm nhiều nét nghĩa mới. Dù không mới mẻ (chỉ có một) nhưng qua trái tim và khối óc của các nhà thơ - những bậc thầy về ngôn từ - trăng đã thoát ra khỏi ý nghĩa cũ càng để tạo nên những bình diện nghĩa mới mang lại hiệu quả thẩm mĩ ngoài mong muốn, tạo nên sức cảm thụ mạnh mẽ, cứ khắc khoải nơi đáy lòng của người đọc, của những người đã từng yêu dấu, từng kì vọng khát khao : "Chỉ có trăng sao là bất diệt/ Cái gì khác nữa thảy đi qua" (Hàn Mặc Tử).

Với một tinh thần hết sức dè dặt, vẫn có thể nói qua việc khảo sát hình tượng trăng trong các tác phẩm văn học trong nhà trường đã cho thấy thấp thoáng sự phát triển tư duy nghệ thuật của nền văn học nước nhà. Từ chỗ xem trăng như là một hình tượng nghệ thuật có tính lưỡng trị

(vừa là một một hình tượng độc lập và hoàn chỉnh để miêu tả khung cảnh thiên nhiên về đêm nhưng cũng vừa là để miêu tả thế giới nội tâm con người) trong văn học viết trung đại đến quan niệm trăng như một hình tượng nghệ thuật có tính đơn trị (hoặc được chủ quan hóa cao độ, tức được tác giả phổ vào đó những nét cảm xúc chủ quan của con người : có thể thấy qua trăng trong thơ Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử : nằm sóng soãi, tự ngẩn ngơ, thẹn thò... ; hoặc được miêu tả một cách khách quan cao độ : trong thơ Tố Hữu, Chính Hữu...) (7) trong văn học hiện đại để qua đó trở thành những biểu tượng được tác giả gửi gắm giãi bày những nỗi niềm tâm tư khắc khoải về con người, cuộc đời, để nhớ và để quên, để suy tư và chiêm nghiệm trong lẽ đời dâu bể, được mất, đa đoan.... Xét đến cùng, lịch sử văn học của một dân tộc chính là lịch sử văn hóa, tâm hồn của dân tộc ấy. Vì vậy, có thể khẳng định rằng, qua hình tượng trăng, ta thấy được bước tiến dài của văn hóa Việt, tâm hồn Việt từ "thần bản" của thuở nguyên sơ đến "nhân bản" của ngày hôm nayo



Ths. Lê Tấn Thích

  ĐỀ: “Một vầng trăng in trong gương Vẫn là một vầng trăng. Vầng trăng qua lòng mắt người nghệ sĩ Có thể thành vô vàn nét đẹp.” (Theo Phạm T...